Thinh lặng trong cử hành phụng vụ (1)

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 1906 | Cập nhật lần cuối: 6/4/2017 10:11:24 PM | RSS | Bản để in | Bản gửi email

SỰ CẦN THIẾT VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA THINH LẶNG TRONG PHỤNG VỤ

Trước Công đồng Vatican II, cử hành phụng vụ là chuyện riêng của vị tư tế và chú giúp lễ. Mỗi người tham dự vào phụng vụ một cách độc lập và xa cách như những hòn đảo: tư tế thi hành công việc của tư tế và ngài làm gần như trọn gói mọi phần trong Thánh lễ, còn giáo dân chỉ lo làm việc đạo đức bình dân của mình miễn sao không ai làm phiền đến ai cả. Thế rồi, một nhận thức mới đã hình thành: cử hành phụng vụ thực sự trở thành kinh nguyện chung của toàn thể Giáo Hội. Người tín hữu muốn cầu nguyện riêng bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu thì tùy, nhưng khi bước vào trong giờ phụng vụ, cộng đoàn đức tin được quy tụ trở thành một thân mình và một tiếng nói chung để cùng nhau công bố sứ điệp Lời Chúa và phụng thờ Thiên Chúa.

Đó là lý do tại sao một trong những chủ đề hàng đầu của cuộc canh tân phụng vụ được trình bày trong Hiến chế Phụng vụ Thánh (Sacrosanctum Concilium = SC) của Công đồng Vatican II là mời gọi các tín hữu tham gia tích cực (actuosa participatio) vào cử hành phụng vụ. Chủ đề "tham gia tích cực" đã trở thành mục tiêu được xem xét trước mọi vần đề khác trong Công đồng. Các nghị phụ của Công đồng nhất trí rằng trong việc canh tân và cổ võ phụng vụ thánh, cần phải hết sức lưu tâm đến việc tham dự trọn vẹn và linh động của toàn dân: vì phụng vụ là nguồn mạch trước tiên và thiết yếu, từ đó các tín hữu múc lấy tinh thần Kitô giáo đích thực.[1]

Tuy nhiên, sự tham gia tích cực không có nghĩa là chạy theo chủ nghĩa duy hoạt động như thể chúng ta phải hòa nhập vào cộng đoàn phụng vụ theo cách làm hết điều này đến điều kia một cách liên tục. Cách thực hành này biến cử hành phụng vụ giống như một "chuyến bay" không trạm dừng (non-stop) hay một "bản nhạc" không nốt lặng và quãng lặng, hoặc tệ hơn nữa như một "chương trình văn nghệ" với các tiết mục nối tiếp nhau không ngưng nghỉ. Trái lại, một trong những cách thức quan trọng nhất để có thể canh tân chính chúng ta khi tham dự phụng vụ là dễ dàng tập trung vào tâm hồn mình (cầm lòng cầm trí) cũng như suy niệm trong thinh lặng. Nhờ vậy, chúng ta có thể nhận rõ những thúc bách của Chúa Thánh Thần nơi thẳm sâu tâm hồn. Vì giống như mọi cách thức cầu nguyện, cốt yếu của phụng vụ là người tham dự phải thinh lặng chăm chú hướng về Thiên Chúa để rồi Thiên Chúa chăm chú nhìn đến chúng ta.[2]

Những lời tung hô, câu đáp, cử chỉ, thánh ca, và tư thế được coi là những phương tiện qua đó chúng ta tham dự vào phụng vụ. Nhưng chính sự thinh lặng cũng là một phương thế như vậy. Có thể nói rằng thinh lặng là lời ca ngợi, là lời chúc tụng đẹp đẽ nhất dâng lên Thiên Chúa. Thinh lặng là một thành phần thiết yếu của cử hành phụng vụ. Tuy vậy, thinh lặng lại là một trong những khía cạnh bị bỏ qua nhiều nhất. Lý do là vì nhiều người e sợ thinh lặng cũng như quên rằng nhịp sống đơn giản mà Thiên Chúa cấy trồng nơi tâm hồn mọi người lại chính là tiết nhịp thinh lặng được tìm thấy trong thiên nhiên. Mẹ Têrêsa Cancutta nói: "Hãy nhìn xem thiên nhiên thế nào - cây, cỏ, hoa - chúng lớn lên trong thinh lặng; hãy nhìn xem tinh tú, mặt trời và mặt trăng, chúng chuyển vận trong thinh lặng ra sao. Chúng ta cần thing lặng để có thể chạm đến các linh hồn."[3]

Thinh lặng không phải là một thái độ thụ động, không phải chỉ là thời khắc không ngôn từ và không hành động nào diễn ra. Trái lại, thinh lặng đúng nghĩa là vượt trên mọi lời để từ cảm nghiệm ý nghĩa (sense experience) cũng như từ cảm nghiệm chiều sâu (depth experience) chúng ta có được cảm nghiệm tôn giáo (religious experience), nghĩa là có thể chạm đến mầu nhiệm cao cả mà lời không thể diễn tả được: đó là thực tại hiện diện của Thiên Chúa siêu việt và thánh thiện nhưng cũng thật gần gũi chúng ta.[4]

Phụng vụ là sự bắc cầu giữa con người và siêu việt. Trong không gian thánh, chúng ta có thể cảm nhận được sự linh thánh qua lời, qua những bài thánh ca, qua bánh và rượu và cả qua sự thinh lặng. Những khoảnh khắc thinh lặng trong phụng vụ hết sức quan trọng vì nhờ đó chúng ta mới có thể tìm được "cảm thức linh thánh" như lòng ước mong và hướng đến, tức là cảm nhận về sự hiện diện của Thiên Chúa.

"Cảm thức linh thánh" phải là căn bản và bầu khí cho mọi nỗ lực của chúng ta đến độ tác giả Robert Hovda coi đây như là một điều kiện cần và đủ (sine qua non) của phụng vụ. Robert Hovda đặt ra vấn đề: nếu không đạt được "cảm thức linh thánh" thì thử hỏi chúng ta tìm thấy gì trong phụng vụ, phải chăng là sự an ủi hay những thứ không liên quan gì đến đức tin hoặc có khi chẳng tìm thấy chi cả. Điều này liên quan đến vấn đề thinh lặng, vì nếu không đủ thinh lặng, cảm thức này có thể bị bóp méo hay giảm sút.[5] Còn nếu chăm chút và thực hành thinh lặng vào những thời điểm thích hợp trong phụng vụ chắc chắn chúng ta sẽ nhận được hệ quả tuyệt vời là cảm thức tôn kính và cảm thức về siêu việt trong cử hành phụng vụ.[6]

Có những nhà tu đức quả quyết: Thiên Chúa nói với chúng ta không những qua Kinh Thánh và lời kinh khẩu nguyện mà còn qua thing lặng; Thinh lặng là quê hương của Thượng Đế; Thiên Chúa là sự thinh lặng vĩnh cửu và cư ngụ nơi thinh lặng; Thiên Chúa là bạn hữu của thinh lặng (Mẹ Têrêsa Cancutta); Thinh lặng là ngôn ngữ đầu tiên của Thiên Chúa; Ngôn ngữ mà Thiên Chúa nghe rõ nhất là tình yêu thinh lặng (thánh Gioan Thánh giá). Những ý tưởng này không khác gì với những lời của nhà thần bí Meister Eckart: tôi đã không nói Thiên Chúa yêu thích sự thinh lặng hay yêu thích những người phụng thờ thầm lặng, mà là Thiên Chúa giống như sự thinh lặng.[7] Bởi thế, nếu con người muốn tìm gặp và cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa thì điều kiện thiết yếu là thinh lặng. Phụng vụ là một trong những môi trường thuận tiện nhất cho việc tìm gặp và cảm nhận Thiên Chúa. Do vậy, rất cần dành chỗ cho sự thinh lặng trong giờ cử hành phụng vụ.

Những khoảnh khắc thinh lặng trong phụng vụ đối với các tín hữu tham dự quan trọng như thế nào thì đối với các thừa tác viên cử hành cũng quan trọng không kém. Bởi vì, thinh lặng là thành phần không thể thiếu được của phụng vụ và thuộc về nghệ thuật cử hành (ars celebrandi).

Vì vậy, chúng ta không nên làm cho Thánh lễ, Bí tích hay Giờ kinh Phụng vụ thành một buổi cử hành ồn ào, vội vã[8] như một dịch vụ hay làm mất đi cảm thức linh thánh, ý nghĩa huyền nhiệm.[9] Thay vào đó, chúng ta nên tôn trọng những chỗ thinh lặng cần thiết và giữ sự thinh lặng linh thiêng đúng lúc.[10]

Thinh lặng trong cử hành phụng vụ (1)

CỘNG ĐOÀN THINH LẶNG

Khi cộng đoàn quy tụ, Kinh Thánh thường đề cập đến việc khẩu nguyện và ca hát chung. Chẳng hạn, thánh Phaolô khuyên các tín hữu: "Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa" (Ep 5,19). Nhưng cũng có nhiều chỗ khác, Kinh Thánh ám chỉ đến việc cầu nguyện với tấm lòng, cầu nguyện với trí khôn, tức là tâm nguyện hay cầu nguyện trong thinh lặng (Tv 4,5; Sm 1,13; 1Cr 14,15).

Phụng vụ có bản chất là một nghi lễ thuộc cộng đoàn, là hành vi hiệp thông và là hành động của toàn thể Thân mình Chúa Kitô gồm Đầu và các chi thể.[11] Sự thinh lặng là thành phần thiết yếu của cử hành phụng vụ cho nên cũng mang tính cộng đoàn. Hơn nữa, thinh lặng chính là một phần trong cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và cộng đoàn đức tin. Thinh lặng là linh hồn của phụng vụ, vì chỉ trong thinh lặng Thiên Chúa mới dễ dàng gặp gỡ chúng ta vào trong tình yêu của Người. Do đó, khi cầu nguyện chung với nhau, mọi thành viên của cộng đoàn đều cần có những giây phút thinh lặng đồng loạt. Điều này tạo ra một bầu khí thinh lặng chung giúp mỗi người có thể nghe được lời thì thầm của Thiên Chúa vang lên trong tâm hồn mình giữa muôn vàn thanh âm khác nhau của một thế giới và thời đại đã quá quen thuộc và thậm chí nghiện ngập sự ồn ào náo nhiệt, nhưng cũng là một thế giới đang đói khát sự thinh lặng.[12] Bởi vậy, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khuyên nhủ phải nỗ lực chăm chút nuôi dưỡng trong cộng đoàn cảm nghiệm về sự thinh lặng và không thể lơ là bỏ qua sự thinh lặng trong phụng vụ.[13]

Khác với nghi thức Thánh lễ thời Công đồng Trento trong đó dân chúng cảm thấy có những điều nhiệm mầu và thiêng thánh đang diễn ra nhưng dường như Thánh lễ là "tuồng kịch siêu tự nhiên" chẳng mảy may liên hệ đến cá nhân họ. Hệ quả là, giáo dân đọc kinh của họ, còn tư tế thi hành chức vụ của tư tế. Ngày nay, sự thinh lặng phụng vụ có tác động lôi kéo cộng đoàn xích lại gần nhau hơn và giúp họ cùng nhau tập trung tâm trí của mình lắng nghe lời cũng như tham dự tích cực vào các mầu nhiệm. Theo thánh Ignatio thành Antiokia (viết cho người Ephêsô), nếu không hiểu được sự thinh lặng của Chúa Kitô thì không thể hiểu được Lời của Người mà nhờ đó họ được trở nên toàn thiện. Nhưng chúng ta chỉ có thể hiểu được sự thinh lặng của Chúa Kitô khi cùng nhau thinh lặng. Vì thế, mầu nhiệm thinh lặng là một trong những yếu tố góp phần xây dựng cộng đoàn. Sự thinh lặng trong phụng vụ nói chung và trong Thánh lễ nói riêng phải xuất phát từ kinh nghiệm thiêng liêng về chiều sâu thần bí mà toàn thể cộng đoàn khám phá và trải qua. Tuy nhiên, sự thinh lặng này cần được hướng dẫn bởi vị chủ sự trong tư cách là người lãnh đạo cộng đoàn phụng vụ.[14]

THỜI ĐIỂM THINH LẶNG ĐẶC BIỆT (Trong Thánh lễ và Giờ Kinh phụng vụ)

I. Thinh lặng trong Nghi thức Thống hối

Quy chế Sách lễ Roma hướng dẫn rằng: "Tiếp theo, vị tư tế mời mọi người sám hối. Sau một chút thinh lặng, tất cả cộng đoàn đọc công thức thú tội chung và vị tư tế đọc lời xá giải để kết thúc. Lời xá giải này không có hiệu quả của Bí tích Thống hối."[15]

Thinh lặng trong nghi thức này không những để hồi tâm suy niệm về thân phận bất toàn và tội lụy của chúng ta, mà nhất là để hướng đến tình thương của Chúa, ngợi khen lòng từ bi lân tuất của Người hầu có thể chuẩn bị tâm hồn mình cử hành sự tha thứ và cảm nhận ơn tha thứ của Chúa qua Bí tích Thánh Thể.[16]

II. Thinh lặng sau khi nghe công bố Lời Chúa

Trong Cựu Ước, sách các Vua quyển thứ I (19, 9… ) viết về cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và tiên tri Elia trên núi Hôrep khi vị ngôn sứ này đang tìm cách trốn tránh sự truy sát của Vua Acáp và hoàng hậu Giêrraben. Thiên Chúa mặc khải cho tiên tri Elia hiểu rằng: gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão, Ngài cũng không ở trong trận động đất, không ở trong lửa nhưng ở trong trong tiếng thì thào êm nhẹ của ngọn gió hiu hiu. Câu chuyện của Elia chứng tỏ rằng hoàn toàn trong thinh lặng và chỉ trong thinh lặng Thiên Chúa mới có thể đi vào trong tâm hồn chúng ta và Lời Chúa được tiếp nhận một cách thanh thản trong thinh lặng.

Bước sang Tân Ước, câu chuyện của thánh Gioan Baotixita làm chứng rằng “Lời Chúa được vang lên giữa chốn sa mạc” (Lc 3, 2). Còn Chúa Giêsu lên tiếng dạy “khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh em, Đấng hiện diện nơi kín đáo” (Mt, 6, 6). Trong cuộc gặp gỡ với chị em nhà Bêtania, Ngài nói với Matta: "Con băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi"(Mt 12, 26). Phần tốt nhất và cần thiết nhất đó là: thinh lặng để lắng nghe Lời Chúa. Không những dạy bằng lời, Chúa Giêsu còn làm gương bằng cách thường xuyên cầu nguyện nơi hoang vắng và trong thinh lặng, lúc sáng sớm, lúc trời còn tối mịt... (Mc 1, 35). Khi sai các môn đệ đi rao giảng, Chúa Giêsu dặn dò các ông “đừng chào hỏi ai dọc đường”(Lc 10, 4): nghĩa là phải tránh mọi thứ xáo trộn và rờm rà phụ thuộc bên ngoài làm phân tán sự bình lặng bên trong, làm cho việc rao giảng Lời Chúa trở nên bất lợi, mất đi tính cách hữu hiệu của công cuộc loan báo Tin Mừng.

Như vậy, phải cử hành Phụng vụ Lời Chúa thế nào để tạo thuận lợi cho việc suy gẫm. Vì thế, nên tránh mọi hình thức vội vã, ngăn trở việc hồi tâm. Chúng ta cần lắng nghe tiếng Chúa trong bầu khí thinh lặng. Chính trong sự thinh lặng của nội tâm mình và nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần mà chúng ta ý thức được sự cao cả của Lời Chúa, khám phá ra ý nghĩa cùng sức mạnh của Lời Chúa và làm cho Lời Chúa thành của mình. Nhờ vậy, Lời Chúa và lời diễn giảng được dễ dàng tiếp nhận và đọng lại trong lòng chúng ta cũng như lời đáp trả của chúng ta qua kinh nguyện được chuẩn bị.[17] Điều này cũng giống như muốn thưởng thức toàn bộ giai điệu của một bản nhạc đến từng chi tiết thì những nốt lặng hay những quãng lặng trong bản nhạc hết sức cần thiết.

Chúng ta áp dụng việc giữ thing lặng vào trong cử hành phụng vụ như sau:

1) Thông thường, cả cộng đoàn cùng nhau thinh lặng lắng nghe Lời Chúa và tiếp tục thinh lặng thêm một chút sau Bài đọc I và Bài đọc II của Thánh lễ và sau bài giảng.[18] Trong Phụng vụ Giờ kinh, chúng ta cũng giữ thinh lặng sau khi nghe đọc đoạn Sách Thánh hay bài kinh Sách. Sự thinh lặng như vậy cho phép chúng ta được nhận chìm vào trong Lời Chúa, suy đi nghĩ lại Lời Chúa vừa được công bố và giải thích. Chúng ta có thể suy gẫm từ những lời được trích đọc trong Sách Thánh, cảm nhận được những "lời" yêu thương của Thiên Chúa đang nói với tâm hồn mình, những lời mời gọi và lôi kéo chúng ta đến gần bên Ngài hơn nữa. Sách Dẫn nhập Bài đọc cho Thánh lễ (= BĐ) năm 1981 quy định:

Cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân Người diễn ra nhờ Chúa Thánh Thần đòi hỏi khoảng thời gian ngắn thinh lặng, phù hợp với cộng đoàn Phụng vụ, như một cơ hội để đưa Lời Chúa vào trong trái tim và chuẩn bị để đáp lại lời ấy trong cầu nguyện. Những lần thích hợp cho sự thinh lặng trong Phụng vụ Lời Chúa là, chẳng hạn, trước khi Phụng vụ bắt đầu, sau Bài đọc thứ I và thứ II, sau bài giảng.[19]

2) Thật ra, nên thinh lặng ngay cả trước khi nghe công bố Lời Chúa mặc dầu không được quy định trong Quy chế Tổng quát Sách lễ Roma. Sự thinh lặng lúc này không phải vì tỏ bày lịch sự với độc viên, thầy phó tế hay linh mục sẽ công bố Sách Thánh, nhưng để giúp chính bản thân mỗi người dễ dàng lắng nghe và tiếp nhận Lời Chúa hơn.

3) Quy chế Tổng quát Phụng vụ các Giờ kinh (= QCGK) đề nghị một thời gian thinh lặng sau mỗi Thánh vịnh của Giờ kinh "để cho tiếng của Chúa Thánh Thần vang dội mãnh liệt hơn trong tâm hồn và để lời cầu nguyện riêng của mỗi người được kết hợp chặt chẽ hơn với Lời Chúa và lời cầu nguyện chính thức của Giáo Hội."[20]

(còn tiếp)

Image result for Thinh lặng trong cử hành phụng vụ

Lm. Giuse Phạm Đình Ái, sss
Nguồn: giaolyductin.net

----------------------------------------------------------

[1] Sacrosanctum Concilium (=SC), 14.

[2] Xc. Laurence Freeman OSB, "The Eucharist and Silence", Lecture at the School of Prayer, Archdiocese of Melbourne (20th April 2005).

[3] Xc. Quy chế Tổng quát Sách lễ Roma (=QCSL) 45; Joseph DeGrocco, A Pastoral on the General Instruction of the Roman Missal (Chicago: Liturgy Training Publication, 2011), 31.

[4] Xc. The Spirit of the Liturgy (San Francisco: Ignatius Press, 2000), 209; Felix. M. Podimattam, ofm. cap., Liturgical Spirituality (Bangalore: IIS Publications, 2001), 12. 22; Edward McNamara , "Sounds of Silence" trong ZENIT Daily Dispatch (ROME, 20 JAN. 2004).

[5] Robert Hovda, "Liturgy' Sine Qua Non: A Sense of the Holy" trong The Amen Corner, John f. Baldovin (ed) (Collegeville, Minnesota: The Liturgical Press, A Pueblo Book, 1994), 58.

[6] Xc. Joseph DeGrocco, A Pastoral on the General Instruction of the Roman Missal, 31.

[7] Laurence Freeman OSB, "The Eucharist and Silence".

[8] Sách Dẫn nhập Bài Đọc cho Thánh lễ (= BĐ), số` 28; Quy chế Tổng quát Sách lễ Roma (=QCSL) 56.

[9] Xc. Joseph DeGrocco, A Pastoral on the General Instruction of the Roman Missal, 31-32.

[10] Xc. SC 30; QCSL 35; 42.

[11] Xc. SC 7; 26f; GH 10; GLCG 1140.

[12] Xc. Dennis C. Smolarski, SJ, "The Importance of Silence to the Liturgy" trong Liturgical Catechesis (No 25, September 2011); Edward McNamara , "Sounds of Silence" trong ZENIT Daily Dispatch (ROME, 20 JAN. 2004); Felix. M. Podimattam, ofm. cap., Liturgical Spirituality (Bangalore: IIS Publications, 2001), 13.

[13] Tông Thư Spiritus et Sponsa, số 13 (Kỷ niệm 40 năm GH ban hành Hiến chế Phụng vụ Thánh).

[14] Xc. Edward McNamara , op. sit.,; Felix. M. Podimattam, ofm. cap., op. sit., 13.

[15] QCSL 51.

[16] Xc. Giuse Phạm Đình Ái, sss, Cử Hành Hy Lễ Tạ Ơn (Nxb Phương Đông, 2014), 80-89.

[17] QCSL 55. 56; Mane Nobiscum Domine 13.

[18] QCSL 66; 128; 130; 136.

[19] BĐ 28.

[20] QCGK 202.