Tông huấn Christifideles Laici - Kitô hữu giáo dân (4)

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 2411 | Cật nhập lần cuối: 6/16/2015 2:09:20 PM | RSS | Bản để in | Bản gửi email

(tiếp theo)

Chương II. TẤT CẢ LÀ CÀNH NHO CỦA MỘT CÂY NHO DUY NHẤT

Sự tham gia của tín hữu giáo dân vào đời sống của Giáo Hội Hiệp Thông

MẦU NHlỆM CỦA GlÁO HỘl THÔNG HlỆP

18. Chúng ta hãy nghe lại lời của Đức Giêsu: “Ta là Cây Nho Thật, và Cha Ta là Người trồng nho… các con hãy ở trong Ta, như Ta ở trong các con” (Ga 15,l-4).

Chỉ mấy lời đơn sơ này cũng đã mặc khải cho chúng ta thấy sự thông hiệp mầu nhiệm kết hợp Chúa và các môn đệ Ngài, nối kết Đức Kitô với các người đã chịu phép Rửa Tội trong sự hơp nhất toàn vẹn: một sự thông hiệp linh động và chuyển ban sinh lực, nhờ đó người Kitô hữu không còn thuộc về mình nữa, nhưng trở thành sở hưu của Đức Kitô, như cành nho hợp nhất với cây nho.

Sự thông hiệp của người Kitô hữu với Đức Giêsu, lấy sự thông hiệp của Chúa Con với Chúa Cha trong ơn Chúa Thánh Thần làm kiểu mẫu, nguồn gốc và cùng đích: Người Kltô-hữu hiệp nhất với Chúa Con trong mỗi giây ràng buộc tình yêu của Chúa Thánh Thần cũng được hiệp nhất với Chúa Cha. Chúa Giêsu còn tiếp: “Ta là cây nho, chúng con là cành” (Ga 15, 5). Người Kitô hữu hiệp thông với Đức Kitô nên họ cũng hiệp thông với nhau. Tất cả đều là cành nho của Cây Nho duy nhất là Đức Kitô. Trong sự hiệp thông huynh đệ này, Chúa Giêsu phản ảnh lạ lùng việc tham dự nhiệm mầu vào đời sông tình yêu thâm sâu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Để thực hiện sự thông hiệp này, Chúa Giêsu đã cầu nguyện: “Cho hết thảy được hợp nhất, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha vậy, để họ cũng được liên hiệp cùng Ta, cho thiên hạ tin rằng Cha đã sai con đến.”

Sự thông hiệp này, chính là mầu nhiệm của Giáo Hội như Công Đồng Vaticanô II đã dùng những lời của Thánh Cyprianô để nhắc lại: “Giáo Hội phố quát xuất hiện như một dân tộc được hợp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánk Thần”.(52) Mầu nhiệm Giáo Hội hiệp thông này được nhắc nhở ở mỗi đầu Thánh Lễ khi vị chủ tế đón mời chúng ta bằng lời chào của Thánh Phaolô Tông Đồ: “Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha và ơn Thông Hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em ” (2 Cr 13, 13).

Công Đồng và Giáo-hội-học Hiệp Thông

19. Đây là tư tưởng chính mà Giáo Hội đã đưa ra ánh sáng để tự định-nghĩa mình trong Công Đồng Vaticanô II, cũng như Thượng Hội Đồng Giám Mục ngoại lệ năm 1985, đã nhắc lại: “Giáo-hộì-học về hiệp thông là tư tưởng trung tâm căn bản của các văn kiện Công Đồng. Giáo Hội Hiệp Thông (koinonia - Communion) dựa trên Thánh Kinh, đã được tôn trọng trong Giáo Hội thời sơ khởi, và trong Giáo Hội Đông phương cho tới ngày nay. Công Đồng Vaticanô II đã nỗ lực làm việc, khảo sát để Giáo Hội được hiểu một cách rõ ràng như là một sự hiệp thông và để khái mệm này được thực thi một cách cụ thể trong đời sống. “Thông Hiệp”, tiếng phức tạp này có nghĩa gì? Từ nguồn gốc nó có nghĩa là sự hiệp thông với Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô trong Chúa Thánh Thần. Sự hiệp thông này chúng ta. nhận được nhờ Lời Chúa và các phép Bí Tích. Phép Rửa Tội là cánh cửa và cũng là nền tảng của sự hiệp thông trong Giáo Hội. Phép Thánh Thể là nguồn và đỉnh cao của sự sống người Kitô hữu. Sự hiệp thông với Mình Thánh Chúa Kitô là dấu chỉ và phát sinh, hay nói cách khác, xây dựng sự hiệp thông mật thiết của mọi tín hữu trong Thân Xác của Chúa Kitô là Giáo Hội”. (53)

Công Đồng vừa bế mạc, Đức Phaolô VI đã nói với tín hữu: “Giáo Hội là một sự hiêp thông. Tiêng hiệp thông ở đây có nghĩa gì? Ta mời chúng con đọc lại giáo lý nói về việc các Thánh Thông Công - và các Thánh Thông Công mang hai nghĩa: Người Kitô hữu được thông công vào sự sông Đức Kitô và sự lưu thông của chính đức ái này trong toàn thể cộng đồng các tín hữu ở trần gian, và bên kia thế giới. Hợp nhất với Đức Kitô và trong Đức Kitô, hợp nhất các Kitô hữu với nhau trong Giáo Hội. (54)

Các hình ảnh Thánh Kinh Công Đồng đã dùng để giúp chúng ta suy niệm mầu nhiệm Giáo Hội, đã đưa ra ánh sáng cho chúng ta thầý thực tại Giáo Hội hiệp thông khăng khít giữa các Kitô hữu với Đức Kitô, và hiệp thông các Kitô hữu với nhau. Đó là hình ảnh chuồng chiên, đàn chiên, cây nho, toà nhà thiêng hêng và hình ảnh thành Thánh. (55) Nhưng trên tất cả, hình ảnh về nhiệm thể của Thánh Phaolô được Công Đồng lưu ý nhiều hơn cả vì giáo lý của Người dạy luôn luôn sống động và hấp dẫn.(56) Công Đồng dựa theo lịch sử Cứu Rỗi cũng trình bày Giáo Hội như là Dân Thiên Chúa: “Thíên Chúa đã không muốn cho con người nhận lãnh sự thánh hóa và ơn Cứu Độ một cách rìêng rẽ, không một giây liên lạc ràng buộc, nhưng Ngài muốn làm cho họ trở thành một dân tộc nhận bỉết Ngài theo sự thật và phụng sự Ngài trong sự thánh thiện” (57). Ngay từ hàng chữ đầu, Híến Chế “ánh Sảng Muôn Dân” đã tóm lược tín lý này một cách tuyệt diệu: “Giáo Hội ở trong Chúa Kitô như là bí tích, nghĩa là vừa là dấu chỉ, vừa là phương tiện đưa đến sự kết hợp mât thiết với Thỉên Chúa và hợp nhất của toàn thể nhân loại.” (58)

Thưc tại Giáo Hội Hiệp Thông như thế là phần tất yếu hay nói đúng hơn, nó là nội dung trung điểm của “Mầu Nhiệm”, nghĩa là của ý định Thiên Chúa trong vỉệc Cứu Rỗi nhân loại. Vì thế sự hiệp thông trong Gỉáo Hội không chỉ nói về phương diện xã hội hay tâm lý. Giáo Hội Thông Công là dân tộc “mới”, là dân tộc “thời đại Đấng Thiên Sai” dân tộc “mà vị thủ lãnh là Đức Kitô…” và sự hiệp thông của nó là phẩm gỉá và sự tự do của con cái Chúa… Luật của dân này là giới răn mới yêu thương như chính Chúa Kitô đã yêu thương chúng ta… Cứu cánh của họ là Nước Thiên Chúa… và dân tộc này đã được Chúa Kitô thiết lập như một Cộng Đồng sống hiệp thông trong đức ái và chân lý” (59). Môí dây liên kết các phần tử của Dân Mới này lại với nhau - và trước tiên với Đức Kitô - không phảỉ là những môí giây “xác thit” và “máu mủ” mà là giây tinh thần, nói rõ hơn là các mối giây của Thánh Thần mà những ai chịu phép Rửa Tội đã nhận lãnh (Ge 3, l).

Bởi vì chính Chúa Thánh Thần tự đời đời đã là sợi giây liên kết của Thiên Chúa Ba Ngôi, một và không phân chia được Thánh Thần này khi thời gían đến” (Gl 4, 4) đã vĩnh viễn kết hơp máu thịt con người với Con Thiên Chúa, là Thánh Thần qua suốt các thế hệ của đạo Chúa Kitô đã trở nên nguồn suốt vô tận đem lại sự hiệp thông trong Giáo Hội.

Một sự Hiệp Thông có cơ cấu: khác biệt nhưng bổ túc

20. Sự thông hiệp trong Giáo Hội là một sự thông hiệp “có cơ cấu”, giống như một thân thể sống động. Nó bao gồm các thành phần khác biệt và bổ túc nhau theo ơn gọi và địa vị, gồm các thừa-tác-vụ, các đoàn sủng (charismes), và các trách nhiệm khác nhau. Nhờ có sự khác biệt và bổ túc này, mỗi tín hữu giáo dân có liên hệ với toàn thân và đem lại phần đóng gúp cho toàn thân.

Thánh Phaolô Tông Đồ đã đặc biệt nhấn mạnh về sự thông hiệp cơ cấu của Nhiệm Thể Đức Kitô. Chúng ta hãy lắng nghe lại một lần nữa giáo huấn súc tích của Người trong bản đúc kết Công Đồng Hiến Chế “ánh Sáng Muôn Dân” quả quyết: “Đức Giêsu Kitô khi thông ban Thánh Thần cho anh em mình mà Ngài đã triệu tập từ các dân các nước lại, đã liên kết họ một cách nhiệm mầu thành Thân Thể Ngài. Trong Thân Thể này, sự sống của Đức Kitô tràn ra nơi các kẻ tin… tất cả các chi thể” tuy nhiều, nhưng lập thành một thân thể, cũng thế các tín hữu họp thành một thân thể trong Chúa Kitô (1 Cr 12, 12). Trong việc xây dựng Thân Thể Chúa Kitô cần có nhiều chi thể với chức vụ khác nhau. Chỉ có một Chúa Thánh Thần ban những ân sủng khác nhau để làm ích cho Giáo Hội theo sự sung mãn của Ngài và tuỳ nhu cầu của các công tác (1 Cr 12,1-11). Trong các ân sủng ấy, ơn ban cho các Tông Đồ đứng hàng đầu: “Chính Chúa Thánh Thần đặt dưới quyền các Ngài những người lãnh nhận các đoàn sủng (1 Cr 14). Cũng chính Thánh Thần ấy, là nguyên lý hợp nhất trong thân xác nơi đó thần lực của Ngài hoạt động và thể hiện sự liên kết các chi thể, làm phát sinh và khích lệ đức ái giứa các tín hữu. Vì thế, nếu một chi thể nào đau đớn, tất cả các chi thể khác đều bị đau đớn , và một chi thể nào được vinh dự tất cả các chi thể khác cùng chung vui”.(60)

Luôn luôn chính cũng một Thánh Thần duy nhất là nguyên lý đầy động lực phát sinh sự khác biệt và sự hiệp nhất trong Giáo Hội. Chúng ta hãy đọc lạì Hiến Chế Muôn Dần: “Để chúng ta được liên lỉ canh tân trong Ngài ” (Ep 4, 23), Đấng đã ban cho chúng ta Thánh Thần của Ngài để hiện hữu nơi đầu cũng như trong thân thể, là sống động, hợp nhất và thúc đẩy toàn thân. Các Thánh Giáo Phụ đã so sánh tác động của Chúa Thánh Thần như công việc của linh hồn là nguyên lý sự sông, hoàn thành trong thân xác (61). Trong một bản văn khác đặc biệt súc tích và hiếm có để giải thích không những “tính chất cơ cấư” riêng biệt của sự hiệp thông trong Giáo Hội, mà hiệp thông này phải luôn luôn trưởng thành cho đến ngày hiệp thông toàn vẹn, Công Đồng viết: “Chúa Thánh Thần ngự trong Giáo Hội và trong tâm hồn các tín hữu như ngự trong Đền Thánh (1Cr 3, 16; 6, 19). Trong họ, Ngài cầu nguyện và chứng nhận họ là dưỡng tử của Thiên Chúa (Gl 4, 6; Rm 8,15-6, 26). Ngài thông đạt cho Giáo Hội toàn bộ chân lý (Ga 16, 13). Ngài thống nhất Giáo Hội trong sự hiệp thông và phục vụ. Ngàỉ xây dựng và dẫn dắt Giáo Hội bằng nhiều ân hụê khác nhau theo phẩm trật và ơn đoàn sủng, tô điểm Giáo Hội bằng hoa trái ân sủng của Ngài (Ep 4,11-12,1 Cr 12, 4, Gl 5, 22). Nhờ sức mạnh Phúc âm, Ngài làm cho Giáo Hội được phát triển, luôn luôn đổi mới, và hướng dẫn Giáo Hội ngày kết hơp với vị Phu quân của mình. Cả Chúa Thánh Thần và Hiền Thê cũng mời gọi Chúa Giêsu rằng: “Xin hãy đến”.(62)

Sự hiệp thông trong Giáo Hội là một ân huệ, một đại ân huệ của Chúa Thánh Thần, các tín hữu đươc mời gọi nhận lãnh ơn này với lòng biết ơn và đồng thời sống ơn này bằng tinh thần trách nhiệm. Việc này thực hiện một cách cụ thể khi họ tham gia vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội, và để phục vụ Giáo Hội các tín hữu giáo dân thi hành các thừa-tác-vụ, và các đoàn sủng của mình.

Người tín hữu giáo dân “không được quyền tự cô lập mình với cộng đoàn, nhưng họ phải luôn sống trong sự chia xẻ với anh em khác trong tình huynh đệ sâu đậm, trong niềm vui vẻ bình đẳng, và hợp tác với nhau để kho tàng gia tài mênh mông đã được nhận lãnh được sinh hoa kết qủa. Thánh Thần Thiên Chúa ban cho họ cũng như ban cho kẻ khác nhiều ơn đòan sủng, Ngài gọi họ lãnh nhận nhiều thừa-tác-vụ và nhiều trọng trách khác nhau. Ngài nhắc lại cho họ cũng như cho kẻ khác biết rằng trong mối tương quan với nhau điều làm cho họ nổi bật, không phải là thăng tiến chức phận, mà chính họ là được trao quyền năng đặc biệt và bổ túc để phục vụ…. Vì thế, các ơn đoàn sủng, các thừa tác vụ, các trọng trách các dịch vụ của người tín hữu giáo dân nếu có là có trong sự hiệp thông. Đó là những kho tàng bổ túc lẫn nhau dùng để tạo lợi ích cho mọi người dưới sự hướng dẫn khôn nguan của các vị Chủ Chăn”.(63)

THỪA-TÁC-VỤ VÀ ĐOÀN SỦNG

LÀ ƠN CỦA CHÚA THÁNH THẦN BAN CHO GlÁO HỘI

21. Công Đồng Vaticanô II trình bày các thừa-tác-vụ và các ơn đoàn sủng như là ơn Chúa Thánh Thần ban để xây dựng Thân Thể Chúa Kitô, và để truyền giáo hầu để cứu rỗi thế giới.(64) Vì Giáo Hội được hướng dẫn điều hành do Chúa Thánh Thần là Đấng ban phát mọi sự khác nhau theo phẩm trật và có tính cách đoàn sủng, Ngài ban cho hết mọi người đã chịu phép Rửa Tội, và kêu gọi họ phải hoạt động và đồng chịu trách nhiệm mỗi người theo cách thế của mình.

Giờ đây chúng ta hăy xem xét các thừa-tác-vụ và các ơn đoàn sủng đôl với các tín hữu giáo dân, và việc tham gia của họ vào đời sống Giáo Hội Hiệp Thông.

Thừa-tác-vụ, Nhiệm vụ và Chức vụ

Các thừa tác vụ hiện tại đang tác động trong Giáo Hội, mặc dầu có khác biệt nhau trong cách thế, nhưng tất cả là đều tham gia vào thừa tác vụ của Chúa Giêsu Kitô là vị Chủ Chăn đã liều mạng sống vì đàn chiên (Ga 10.11), là người đầy tớ hèn mọn và hoàn toàn hy sinh để cứu rỗi mọi người (Mk. 10:45). Thánh Phaolô nói rất rõ ràng về sự thiết lập các thừa-tác-vụ trong Giáo Hội đời các Thánh Tông Đồ. Trong thư thứ nhất gỉn các tín hữu thành Côrintô, Ngài viết: “Thiên Chúa đặt để trong Giáo Hội, trước tiên có các Tông Đồ, thứ đên các vị rao giảng, rồi đến những kẻ nhận trách nhiệm dạy dỗ… ” (Cr 12, 28). Trong thư gởi cho giáo hữu thành Ephêsô Ngài viết: “Mỗi người trong chúng ta đã lãnh nhận ơn nghĩa thánh như Chúa Kitô đã phân chia… và các ơn Ngài ban cho con người, trước tiên là các Tông Đồ, đến các vị rao giảng, các nhà Thừa Sai Phúc âm, các chủ chăn và những người lo việc dạy dỗ. Như thế, dân thánh Chúa được tổ chức để các thừa-tác-vụ được hoàn thành và để Thân Thể của Đức Kitô được xây dựng. Cuối cùng, tất cả chúng ta cùng nhau hiệp nhất trong Đức Tin và trong sự hiểu biết chân chính Con Thiên Chúa, để tiên tới tình trạng trưởng thành, và sung mãn trọn vẹn của tầm vóc con người Đức Kitô” (Ep 4,7-11.13: Rm 12,4-8). Các bản văn này cũng như các văn bản khác của Tân ước cho chúng ta thấy là các thừa-tác-vụ, cũng như các ơn huệ và các công tác trong Hội Thánh, có rất nhiều và khác nhau.

Các thừa-tác-vụ phát sinh từ Phép Truyền Chức Thánh

22. Trong Giáo Hội , chúng ta thấy trước tiên các thừa-tác-vụ được truyền phong nghĩa là phát nguồn từ Phép Truyền Chức Thánh. Chúa Giêsu đã chọn và đặt các Tông Đồ “như là hạt giống nảy sinh dân Israel mới và đồng thời cũng là nguồn gốc của phẩm trật trong Giáo Hội” (65) , và truyền cho họ phải huần luyện và đào tạo những môn đệ trong khắp các dân tộc (Mt 28:19), và đĩeu khiển hàng tư tế. Sứ vụ của các Tông Đồ mà Chúa Giêsu tiếp tục giao phó cho các vị Chủ chăn dân Ngài, là một chức vụ mà Thánh Kinh gọi là “diakonia” nghĩa là phục vụ hay mục vụ. Các vị này nhận lãnh nơi Đức Kitô Phục sinh, ơn đoàn sủng của Chúa Thánh Thần được truyền thụ không ngừng từ đời các Tông Đồ, nhờ bí tích Truyền Chức Thánh: Từ Đức Kitô họ nhận lãnh trách nhiệm và quyền năng linh thiêng để phục vụ Giáo Hội, họ hành động nhân danh Chúa Kitô là Đầu (66) và để hơp nhất Giáo Hội lại trong Chúa Thánh Thần nhờ Phúc âm và phép Bí Tích.

Các thừa-tác-vụ được truyền phong là một ân sủng được ban cho toàn thể Giáo Hội, chứ không chỉ là ân sủng riêng cho cá nhân người lãnh nhận. Các thừa-tác-vụ này là sư thực thi và biểu lộ việc được tham dự vào chức linh mục của Chúa Kitô; sự tham dự này khác biệt ngay trong bản tính, chứ không chỉ trong mức độ tham dự đã được ban cho mọi tín hứu nhờ phép Rửa Tội và phép Thêm Sức. Đàng khác, chức linh mục thừa-tác-vụ, như Công Đồng Vaticanô II đã gọi hướng về chưc tư-tê-vương-giả cộng đồng của mọi tín hữu, và cùng đích cốt yếu của nó nằm ở trong chức tư tế này.(67)

Vì thế, để bảo đảm và làm tăng trưởng sự hiệp thông trong Giáo Hội, đặc biệt về những gì có lỉên quan đến các thừa-tác-vụ khác nhau và bổ túc cho nhau, các vị chủ chăn phải xác tín chắc chắn rằng chức linh mục của mình là để phục vụ toàn dần Thiên Chúa (Heb. 5.1). Các tín hữu giáo dân cũng phải nhìn nhận rằng chức linh mục thừa-tác-vụ tuyệt đối cần thiết cho cuộc sống của chính mình trong Giáo Hội, và cho mình được tham dự vào sứ mệnh của Giáo Hội.(68)

Thừa tác vụ, nhiệm vụ và chức vụ của giáo dân

23. Sứ mệnh cứu rỗi của Giáo Hội giữa thế giới được thực hiện không chỉ nhờ các vị thừa hành đã nhận lãnh bí tích Truyền chức Thánh, nhưng cũng nhờ các tín hữu giáo dân; vì họ đã được chịu phép Rửa Tội và được kêu gọi đặc biệt, để tham dự theo mức độ của mỗi người vào chức vụ tư tế, rao giảng và vương giả của Đức Kitô.

Bởi thế, các vị chủ chăn phải thừa nhận và cổ võ các thừa-tác-vụ, nhiệm vụ và chức vụ của các tín hữu giáo dân, những nhiệm vụ và tác vụ này có nền tảng bí tích trong phép Rửa Tội, phép Thêm Sức và hơn nữa trong phép Hôn Phối đối với nhiều người trong giáo dân.

Hơn nữa, khi cần thiết hoặc vì lợi ích của Giáo Hội đòi buộc, các chủ chăn có thể theo quy chế dự định trong bộ luật chung, giao phó cho tín hữu giáo dân một số nhiệm vụ hay chức vụ. Những nhiệm vụ hay chức vụ này vẫn (tuỳ thuộc) với thừa-tác-vụ chủ chăn của các Ngài, nhưng không cần chức Thánh mới thi hành đuược. Giáo Luật xác định: “Nơi nào nhu cầu Giáo Hội đòi hỏi và thiếu thừa-tác-viên, thì các giáo dân dù không có chức tác-vụ đọc sách và giúp lễ, cũng có thể thay thế họ làm một số việc như đọc Lời Chúa, chủ tọa các buổi cầu nguyện, rửa tội và cho rước lễ theo các quy tắc luật định”.(69)

Tuy nhiên, việc thi hành chức vụ này không làm cho người tín hữu giáo dân trở thành vị chủ chăn: Thật ra, điều tạo nên một thừa-tác-vụ, không phải là chính tác động mà là bí tích Truyền Chức. Chỉ có phép Truyền Chức Thánh mới ban cho vị thừa-tác-viên nhận chức sự tham gia vào chức tư tế của Đức Kitô.(70) Chức vụ thi hành với tư cách là kẻ thay thế được xem là hơp pháp, là vì các chủ chăn đã lãnh nhận một cách công khai sự đại diện chính thức. Vậy khi thi hành chức vụ này, người thay thế phải lệ thuộc vào quyền lãnh đạo của Giáo-quyền.(71)

Thượng Hội Đồng Giám Mục vừa qua đã trình bày cho thấy một cái nhìn bao quát tình trạng Giáo Hội về các thừa-tác-vụ, nhiệm-vụ và chức-vụ của những người đã chịu phép Rửa Tội. Các Nghị Phụ đã hết lòng thán phục những sự cộng tác tông đồ của các tín hữu giáo dân nam nữ để làm cho Giáo Hội được sống và tăng trưởng bằng các ơn đoàn sủng, bằng các hoạt động nâng đỡ việc truyền giáo, việc thánh hóa và sống đạo. Đồng thời các vị Nghị Phụ cũng rất quý mến sự tận tâm sẵn có của họ để phục vụ các cộng đồng trong Giáo Hội, và việc chuẩn bị sẵn sàng của họ để thay thế các vị chủ chăn trong những trường hơp khần cấp hoặc trong các nhu cầu nhất thời.(72)

Sau khi Công Đồng cổ võ việc canh tân Phụng vụ, các tín hữu giáo dân cũng ý thức rõ ràng về nhiệm vụ của họ trong khi chuẩn bị tham dự các nghi thức Phụng vụ; vì thế họ đã tỏ ra rất quan tám: Vì việc cứ hành Phụng vụ là một việc Thánh của cộng đồng dân Chúa chứ không riêng gì của hàng giáo sĩ. Lẽ dĩ nhiên việc nào không phảí dành riêng cho các vị có chức Thánh thì phải do các tín hữu giáo dân đảm trách.(73) Một khi chấp nhận việc tham gia thật sự của người tín hữu giáo dân trong việc phụng sự, tự nhiên cũng để chấp nhận họ tham gia vào việc rao truyền Lời Chúa và trách nhiệm mục vụ.(74)

Trong buổi Đại Hội Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới, ngoài những phán đoán tích cực ủng hộ, cũng không thiêú những lời chỉ trích bài bác việc dùng từ ngữ “thừa-tác vụ, , việc lẫn lộn chức linh mục cộng đồng với chức linh mục thừa hành, việc bỏ sót không áp dụng luật lệ và định chế của Giáo Hội, việc giải thích tự tiện khái mệm về việc thay thế, chỉ trích xu hướng giáo-sĩ-hóa, các tín hữu giáo dân có nguy tạo nên một cơ cấu phục vụ trong Giáo Hội song song với cơ cấu đã được xây dựng trên nền tảng của phép Truyền Chức Thánh.

Để ngăn ngừa các hiểm họa ấy, các Nghị phụ lưu tâm đến việc cần thiết phải giải thích rõ ràng bằng cách quy định một từ ngữ chính xác, diễn tả hai điểm quan trọng này (75), sự duy nhất sứ mệnh của Giáo Hội là sứ mệnh tất cả những người đã chịu phép Rửa Tội phải tham gia, và sự khác biệt bản chất mà thừa-tác-vụ của các vị chủ chăn được xây dựng trên nền tảng của phép Truyền Chức Thánh, với các thừa-tác-vụ, nhiệm vụ và chức vụ khác được xây dựng trên nền tảng của phép Rửa Tội và phép Thêm Sức.

Vì thế, trước khi thừa nhận hay trao ban cho các tín hữu giáo dân các thừa-tác-vụ, nhiệm vụ hay chức vụ, các chủ chăn phải thận trọng cho họ hiểu là các nhiệm vụ này phát sinh từ phép Rửa Tội. Thứ đến các vị chủ chăn không nên dễ dãi viện cớ trường hợp khẩn trương hoặc thay thế khẩn cấp, khi thật sự không có hoặc lúc có thể sắp đặt một chương trình mục vụ hữu hiệu hơn..

Các nhiệm-vụ và chức-vụ người tín hữu giáo dân có thể thực thi hơp pháp trong Phụng vụ, trong việc truyền bá Đức Tin và trong các cơ cấu mục vụ của Giáo Hội, phải được thực thi phù hơp với ơn gọi đặc biệt của họ, một ơn gọi khác biệt với các thừa-tác-vụ Thánh. Chính bức Tông huấn “Truyền bá Phúc âm” của Đức Phaolô VI đã đề cập đến vấn đề này. Bức Tông Huấn đã đem lại những kết qủa rất lớn lao và tốt đẹp vì đã cảnh tỉnh được người tín hữu giáo dân để họ tham gia bằng nhiều cách vào đời sống, và vào sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội. Bức Tông Huấn đã nhắc nhở rõ ràng rằng: “Môi trường riêng biệt của các hoạt động tông đồ của người giáo dân là thế giới mênh mông phức tạp của đời sống chính trị, của các thực tại xã hội và kinh tế, của đời sống văn hóa, khoa học và nghệ thuật, của đời sống quôc tế, của các phương tiện truyền thông xã hội. Nó cũng bao gồm các thực tại khác đặc biệt mở rộng cho việc rao truyền Phúc âm như tình yêu, gia đình, giáo dục trẻ em và thanh thiếu niên, lao động chức nghíệp và đau khổ. Càng có nhiều giáo dân thấm nhuần tinh thần Phúc âm, ý thức trách nhiệm đối với các thực tại ấy và dấn thân một cách tích cực, đủ khả năng trong việc khai triển các thực tại ấy, và đồng thời ý thức được bổn phận buộc mình phải phát huy tiềm năng Công Giáo của mình đã từ lâu bị chôn vùi và bóp nghẹt, chúng ta càng thấy tầm mức siêu việt và hiệu năng trần thế của nó, để được xử dụng trong công cuộc xây dựng nước Thiên Chúa nghĩa là nước Cứu Rỗi trong Đức Giêsu Kitô”.(76)

Trong Thượng Hội Đồng, các Nghị Phụ cũng đã khảo sát về chức Đọc Sách và chức Cầm Nến. Ngày xưa, trong Giáo Hội Latinh, hai chức này chỉ là hai giai đoạn thiêng líêng dọn đường đưa đến các Chức Thánh; nhưng Đức Phaolô VI trong Tự Sắc Ministeria quaedam (15.8.1972) đã quyết định có thể truyền riêng hai chức này cho các nam tín hữu giáo dân.(77) Các Nghị Phụ đã đề nghị phải nghiên cứu lại Tự Sắc Ministeria quaedam đối chiếu với việc thi hành của các Giáo Hội địa phương, và nhất là định rõ các tiêu chuẩn để chọn các ứng cử viên vào các chức vụ ấy.”(78)

Để thực hiện điều này, một ủy ban đặc biệt đã được thành lập. Ủy ban này không những có mục đích đáp lại ước nguyện các Nghị Phụ, mà nhất là để nghiên cứu một cách sâu rộng các vấn đề thần học, phụng vụ, pháp lý và mục vụ được nêu ra vì hiện nay quá nhiều thừa-tác-vụ được trao phó cho giáo dân.

Trong thời gian chờ đợi công việc nghiên cứu của ủy ban kết thúc để việc thi hành các thừa-tác-vụ trong Giáo Hội trao cho tín hữu giáo dân cho có trật tự và hữu ích, các Giáo Hội địa phương phải tôn trọng những nguyên tắc thần học đã dẫn giải ở trên, nhất là sự khác biệt căn bản giữa chức linh mục thừa hành và chức linh mục cộng đồng, và do đó, sự khác biệt giữa các thừa-tác-vụ phát sinh từ phép Truyền Chức Thánh và các thừa-tác-vụ phát sinh từ phép Rứa Tội và phép Thêm Sức.

Đoàn Sủng

24. Chúa Thánh Thần trong lúc giao phó cho Giáo Hội Hiệp Thông các thừa-tác-vụ, thì đồng thời cũng làm cho Giáo Hội được sung túc với nhiều ân hụê và ân sủng đặc biệt khác gọi là đoàn sủng. Các ơn này có nhiều hình thức khác nhau vì Chúa Thánh Thần Đấng ban phát nhứng ơn này là Đấng Tự Do tuyệt đối, và vì lịch sử Giáo Hội có nhiều nhu cầu khác nhau. Tân ước đã mô tả và xếp hạng các ơn nàv, như chúng ta thấy có rất nhiều loại khác nhau: “Vì Thánh Linh hiển hiện trong mỗi người hầu mang lại ích lợi. Như người này nhờ Thánh Linh được ơn lợi khẩu, người khác cũng nhờ Thánh Linh được thông thái, bởi một Thánh Linh đó người này được tín ngưỡng và cũng do Thánh Linh ấy người kia được ơn trị bệnh; lại người được làm phép lạ, kẻ nói tiên tri, người phân biệt các tâm kồn, kẻ nói được nhiều ngoại ngữ, người khác có thể thông dịch các thứ tiêng” (Cr 12,7-10)

Các đoàn sủng cao siêu hay giản dị, tất cả đều là ân sủng Chúa Thánh Thần, trực tiếp hay gián tiếp các ơn này đều đem lại lợi ích cho sự sống Giáo Hội, vì Chúa đã sắp xếp cho các ơn này được xử dụng để xây dựng Giáo Hội, để bổ ích cho con người và để đáp ứng lại các nhu cầu của thế giới

Chính trong thời đại chúng ta, chúng ta cũng thấy đó đây nẩy nở những đoàn sủng nơi người tín hữu giáo dân cả nam lẫn nữ. Các ơn này được ban cho một người nhất định, nhưng các người khác cũng được thông phán và rồi được bảo tồn qua thời gian như một gia sản sống động, quý giá để tạo nên môt liên hệ thiêng liêng đặc biệt giữa nhĩeu người. Khi nói đến việc tông đồ giáo dân, Công Đồng Vaticanô II đã viết: “Để thể hiện việc tông đồ này, Chúa Thánh Thần thánh hóa dân Chúa bằng bí tích và tác vụ. Ngài cũng ban cho tín hữu ơn đặc biệt (1 Cr 12: 7) để “mỗi người tùy theo ơn đã nhận mà giúp đỡ nhau và chính họ trở nên như những người quản lý trung tín các ơn Thiên Chúa” (1 Pr 4,10) hầu xây dựng Toàn Thân trong Đức ái.” (79)

Các ơn Chúa Thánh Thần được phát sinh để tạo thêm sinh lực dồi dào, vì thế nó đòi hỏi những ai lãnh nhận phải thi hành để cho Giáo Hội được lớn lên và phát triển như Công Đồng đã dậy.(80)

Không phải chỉ những ai lãnh nhận các đoàn sủng, mà tất cả các chi thể của Giáo Hội đêu phải tỏ lòng biết ơn. Vì các ơn ấy là một kho tàng kỳ diệu ơn sủng Chúa ban cho Toàn Thân Chúa Kitô để được thánh hóa và hoạt động tông đồ, với đìêu kiện là nó thật bởi Chúa Thánh Thần mà đến và được thực thi hoàn toàn do Chúa Thánh Thần thúc đẩy. Vì thế, chúng ta phải luôn thận trọng phân biệt các đoàn sủng. Thực ra, như các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đã tuyên bố. “Hoạt động của Chúa Thánh Thần, là Đấng thổi hơi nơi nào Ngài muốn, thực không phải dễ dàng phân biệt và nhận lãnh. Chúng ta biết Thiên Chúa tác động trong tất cả các tín hữu và chúng ta cũng ý thức được các ơn lành do các đoàn sủng, ban cho mỗi người hoặc cho cả cộng đồng Kitô hữu. Nhưng chúng ta cũng cần ý thức đến sức mạnh của tội lỗi và những cố gắng của nó nhằm gieo rắc rôi loạn trong đời sống của các tín hữu và của các cộng đồng”.(81)

Vì thế mọi đoàn sủng phải liên hệ và tuỳ thuộc vào các chủ chăn của Giáo Hội. Công Đồng đã công bố rõ ràng: “Những vị hữu trách của Giáo Hội có thẩm quyền phán quyết về tính cách chân thực và việc xử dụng hơp lý các ơn ấy; các Ngài có nhiệm vụ thử thách, không phải để dập tắt ơn Chúa Thánh Thần, nhưng để trắc nghiệm và giứ lại những gì là chính đáng” (82) để tất cả những đoàn sủng, mặc dầu khác biệt nhưng bổ túc cho nhau, đều quy về lợi ích chung.(83)

(còn tiếp)

Rôma, ngày 30 tháng 12 năm 1988

Đức Giáo hoàng GIOAN-PHAOLÔ II

---------------------------------------

Bài liên quan:

Tông huấn Christifideles Laici (1)

Tông huấn Christifideles Laici (2)

Tông huấn Christifideles Laici (3)

Chú thích:

52) Lumen Gentium, số 4

53) Kỳ họp II Thượng Hội đồng Giám mục - (1985) - Relatio finalis II, C, I.

54) Phaolô VI - Bài nói chuyện ngày thứ tư (8-6-1966). Insegnamenti IV (1966). 794.

55) X. Lumen Gentium, số 6,

56) ibid. 7 và kế tiếp

57) ibid. 9

58) ibid. 1

59) ibid. 9

60) ibid. 7

61) ibid.

62) ibid. 4

63) Gioan-Phaolô II - Bài giảng Thánh lễ bê mạc kỳ họp thứ 7 Thượng Hội đồng Giám mục. (30.10.1987) AAS 80 (1988) 600.

64) Lumen Gentium, số 4

65) Ad Gentes, số 5

66) Presbyterorum ordinis, số 2; Lumen Gentium, số 10.

67) Xem Vaticanô II - Hiến chếLumen Gentium, sô’10.

68) Xem Gioan-Phaolô II - Thư trong ngày thứ Năm Tuần Thánh gửi các Linh mục của Giáo hội (9-4-1979) - 3-4. Insegnament II,l (1979), 844-847.

69) C. 1-C. Can. 230 # 3

70) Presbyterorum ordinis, số 2 & 5.

71) Apostolicam actuositatem, số 24

72) Bộ Giáo luật kể một số chức vụ và hành động riêng thuộc các thừa tác viên có chức thánh; những việc này có thể được giáo dân hành xử trong một thời gian vào những hoàn cảnh đặc biệt và nghiêm trọng, với sự cho phép đúng theo luật định đi trước và với ủy quyền của giáo quyền hợp cách: xem Can. 280 # 3; 517 # 2; 776; 861 # 2; 910 # 2; 943; 1112; v.v….

73) Sacrosanctum Consilium, số 28; C.l.C Can. 230 # 2: “với năng cách được cử tạm thời, giáo dân có thể hành xử chức vụ Đọc Sách trong các hành vi phụng vụ; cũng thế, tất cả giáo dân có thể hành xử các chức vụ bình giải, ca ngâm, hoặc những chức vụ khác nữa, theo luật định”.

74) Giáo luật trình bày nhiều chức vụ và bổn phận khác nhau mà giáo dân có thể chu toàn trong các cơ cấu của Giáo hội: xem Can. 228; 229 # 3; 317 # 3; 436 # 1 số 5 và # 2; 483; 494; 537; 759; 776, 784, 785; 1282, 1421 # 2; 1424; 1428 # 2; 1435; v.v….

75) Xem Propositio, 18.

76) Phaolô VI - Tông huấn Evangelii Nuntiandi, 70, AAS 68 (1960), 60.

77) C.I.C Can. 230 # 1

78) Propositio, 18

79) Sắc lệnh Apostolicam, 3.

80) “Từ việc lãnh nhận các đoàn sủng này, dẫu đơn sơ nhất, mỗi người giáo dân có quyền và bổn phận thực hiện các ơn đó trong Giáo hội và giữa trần thế vì lợi ích con người và xây dựng Giáo hội, trong sự tự do của Chúa Thánh Linh “Đấng thổi nơi nào Ngài muốn” (Gioan 8,8), và đồng thời hiệp thông với anh em mình trong Đức Kitô và đặc biệt với các vị chủ chăn của mình” (tld).

81) Propositio, 9.

82) Lumen Gentium, 12.

83) x. ibid. 30