Du lịch Thánh Kinh (1)

5 /5
1 người đã bình chọn
Đã xem:  | Cật nhập lần cuối:2015-03-12 19:21:51  | RSS

PHẦN I

Chương mở: Sửa soạn hành trang

Trước khi lên đường đi du lịch nước nào, ta tìm hiểu địa dư, lịch sử, ngôn ngữ, phong tục nước ấy. Ta mua ngay một cuốn chỉ nam, hướng dẫn ta trong suốt cuộc hành trình.

Đây là chỉ nam sáu mục:

1. Thánh Kinh là cuốn sách hay tủ sách?

2. Một dân tộc đọc lại đời sống của mình.

3. Đọc và nghiên cứu bản văn.

4. Một dân tộc có địa dư độc đáo.

5. Một dân tộc có não trạng Trung Đông.

6. Ngàn năm lịch sử hay những giai đoạn lớn dân Israel.

I. Thánh Kinh: Cuốn sách hay tủ sách?

Thánh Kinh, không chỉ là một cuốn sách mà là cả một tủ sách:

- 76 cuốn theo Phong Trào Đại Kết,

- 73 cuốn theo Truyền Thống Công giáo.

- 63 cuốn theo Quy Điển Tin Lành.

1. Tên gọi

Nếu xét bên ngoài mà thôi, thì Thánh Kinh là một sưu tập gồm nhiều sách thuộc nhiều thời đại và nhiều tác giả khác nhau: Thời gian từ những đoạn văn xưa nhất đến bản văn mới nhất, cũng phải ít nhất là 10 thế kỷ. Tiếng Hy Lạp gọi đó là Ta Biblia, nghĩa là những sách. Tiếng Pháp, tiếng Anh đọc là: La Bible hay The Bible.

Tiếng La Tinh gọi là:

- Giao Ước: Testamentum

- Cựu Ước: Vetus Testamentum

- Tân Ước: Novum Testamentum.

Tiếng Việt gọi là Thánh Kinh hay Sách Thánh.

2. Phân chia

Thánh Kinh có hai phần: Cựu Ước và Tân Ước. Tân Ước có 27 cuốn, mọi người đều công nhận. Cựu Ước thì có ba ý kiến:

Người Do Thái, sau đó là Tin Lành, chỉ nhận các sách viết bằng tiếng Hipri, tất cả là 40 cuốn; người Công giáo thêm vào đó 6 cuốn nữa, viết bằng tiếng Hy Lạp; Tin Lành gọi là “Ngụy Kinh”, Công giáo gọi là “Nhị Kinh”. Sau cùng, Phong Trào Đại Kết nhận thêm 3 cuốn nữa.

3. Phân loại

Thánh Kinh Do Thái gồm ba phần: Luật hay Tôrah (ta gọi là Ngũ Thư hay Ngũ Kinh). Các sách Ngôn Sứ hay Nêbiim, chia thành hai nhóm: Isaia, Giêrêmia, Êdêkien và 12 vị khác. Sau cùng là các Sách Khác hay Kêtubim. Lấy ba chữ đầu của ba phần ghép lại thành chữ Tanak chỉ bộ Thánh Kinh Do Thái.

Cách phân loại trên theo Đại Kết. Còn hầu hết các sách Thánh Kinh đều theo kiểu Thánh Kinh Hy Lạp, có bốn phần: Ngũ Thư, các sách Lịch Sử, các sách Ngôn Sứ, và các sách Khôn Ngoan.

4. Ngôn ngữ

Toàn bộ Thánh Kinh Cựu Ước viết bằng tiếng Hipri, trừ một số đoạn bằng tiếng Aram. Cả hai thứ ngôn ngữ này chỉ viết bằng phụ âm, độc giả thêm nguyên âm vào tùy ý nghĩa. Thế kỷ thứ 7, các học giả Do Thái, biệt hiệu Massôret, lập ra nguyên âm bằng những dấu gạch và dấu chấm ở trên và dưới phụ âm. Ta có bản Thánh Kinh Massaôrêtico là vậy.

Thánh Kinh Cựu Ước được dịch ra tiếng Hy Lạp ngay thế kỷ 3 trước công nguyên, tại Alexandrie Ai Cập. Theo tục truyền, có 70 chuyên viên làm việc riêng rẽ liên tục 70 ngày, đã đi đến một bản dịch hoàn toàn giống nhau. Ý nghĩa việc này rất quan trọng: Thần Linh đã hướng dẫn! Cũng vì thế, mà bản Thánh Kinh này gọi là bản Bảy Mươi (LXX).

Thánh Kinh Tân Ước toàn bộ viết bằng tiếng Hy Lạp phổ thông Kôinê, rất ưa dùng thời đó, cũng như tiếng Anh ngày nay.

Ba bản dịch cổ kính, thời danh là bản Syriắc, Copte, và La Tinh. Bản dịch La Tinh, gọi là bản Phổ Thông, là công trình của thánh Giêrôm, thế kỷ 4-5 Công Nguyên.

5. Chương và câu

Chia Thánh Kinh ra từng đoạn (chương), từng câu, là việc làm của hậu sinh. Toàn bộ Thánh Kinh , Cựu cũng như Tân Ước, đều được viết một hơi, một mạch, không Chương không Đoạn, không ghi số câu… Ý tưởng chia sách ra từng Chương, từng Đoạn là của Étienne Langton, năm 1226. Nhà ấn hành Robert Estienne, trên chuyến xe ngựa từ Lyon về Pari năm 1551, đã chia mỗi chương ra từng Câu, ghi số hẳn hoi.

Việc chia sách ra từng chương, từng câu, nếu đầy đủ ý nghĩa, thì thật là hay đẹp. Nhưng nhiều khi không hợp tình hợp lý, đó là điều đáng tiếc. Tuy nhiên việc chia cắt này được toàn thể các bản dịch thừa nhận, vì rất thiết dụng cho việc trưng dẫn. Ví dụ, viết Xh 14, 17 là chỉ sách Xuất Hành, chương 14, câu 17.

II. Một dân tộc đọc lại đời sống của mình

Thánh Kinh, đặc biệt Cựu Ước, là sách đánh lạc hướng. Dù chưa mở ra, mọi người đều đinh ninh rằng: Đó là sách thánh của người Do Thái, của người Kitô giáo; rằng mình sẽ đọc được Lời Chúa “nguyên xi”, một thứ đạo lý hay một thứ luân lý.

Nhưng, khi mở sách ra, thấy toàn những truyện tích cổ xưa của một dân tộc bé nhỏ, một lịch sử thường không đáng chú ý lắm, những câu chuyện về luân lý không đáng nêu gương, có chuyện không dám đọc to kẻo xấu hổ, những cuộc chém giết dữ tợn, những trận chiến dã man, những bản kinh không thể cầu nguyện được, những lời khuyên đạo đức của người già, lỗi thời…

Thánh Kinh, sách đánh lạc hướng, sách gây kinh hoàng, lịch sử một dân tộc kỳ diệu và kỳ dị, say mê đi tìm Thiên Chúa và cũng được Thiên Chúa yêu thương. Một ngụ ngôn sẽ làm sáng tỏ vấn đề.

1. Chiều ngày Lễ Vàng Hôn Phối

Khi chúng tôi tới, tiệc tùng đã xong, cháu con thân thuộc đã đi hóng mát. Ở nhà chỉ còn cụ ông cụ bà. Chúng tôi nghiêng mình chúc thọ và xin hầu truyện. Để ý quan sát, chúng tôi nhận thấy hai cụ là bậc phúc hậu, sống đơn sơ, âm thầm, giữa bao vui buồn của một nửa thế kỷ rồi, mà như mới cưới hôm nay. Trong tình thân mật, cụ ông không những kể truyện, mà còn mở tráp cho xem các giấy tờ, hình ảnh kỷ niệm, ngày lễ cưới, bữa tiệc, ảnh đứa con đầu lòng, bưu thiếp… Tất cả đều phai lạt với thời gian, nhưng hiện lại rõ dệt với hai cụ hôm nay. Có cả gia phả ghi chép tiên tổ dòng họ, chi tiết đầy đủ.

Chúng tôi vừa sờ tới một gói bọc cẩn thận, thì cụ giữ lại, mỉm cười nói: “Đây là bí mật không ai được xem”. Hỏi, hỏi riết… cụ ông, trong một ngày vui, xổ hết bầu tâm sự: “Đây là những bức thư tình trao đổi nhau khi còn là học sinh Trung Học đó!” Vừa nói vừa cho chúng tôi coi.

Chiều hôm ấy qua đi đẹp như một giấc mơ! Chúng tôi có cảm tưởng như quen biết hai cụ từ lâu, và cùng hai cụ khám phá ra ý nghĩa và giá trị của một đời sống: Một đời sống viết thành văn!

2.Cuộc đời viết thành văn

Những tờ giấy, hình ảnh… của hai cụ, hơn là những vật kỷ niệm vô hồn, chúng đã làm sống lại cuộc đời của hai cụ. Nhờ chúng và với chúng, chúng tôi như được đi vào tham quan thế giới riêng tư của hai cụ.

Cũng thế, các sách trong bộ Thánh Kinh, bề ngoài coi rất tầm thường, không gây thích thú gì, nhưng nó tác dụng dẫn chúng ta tham gia vào cuộc mạo hiểm của một dân tộc, tiêu biểu nhân loại xưa và nay, đi tìm Thiên Chúa và Thiên Chúa đi tìm họ.

3. Sau này mới hiểu

“Đây là bức thư tình của tôi”, cụ ông nháy mắt vừa cười vừa cho chúng tôi đọc. Thì ra là một bài toán, cụ ông làm và cắt nghĩa cho cụ bà, cụ bà nghỉ học vì đau… Thế nhưng, bài toán đã khai mở cho một chuỗi thư tình sau đó…

Có những biến cố tự nó không có nghĩa gì, nhưng vì chúng đi vào lịch sử đời ta, nên chúng đã mang ý nghĩa quan trọng. Thời gian càng lùi xa, biến cố càng nên quan trọng.

Thuật lại một biến cố, không chỉ là kể lại cho đúng, diễn lại cái đã qua, nhưng là dựng lại biến cố, làm nổi bật ý nghĩa của nó đối với ta hôm nay. Nếu sau kể lại nữa, ta lại khám phá ra khác. Đôi khi anh bạn nói câu ta không để ý, sau nhớ lại, ta kêu lên: “Đó là điều anh ấy muốn nói”. Vậy, thế nào: ĐÚNG là lời anh ấy đã nói, và THỰC là ý anh ấy muốn nói?

4. Đúng hay Thực

Có người hỏi: “Những gì Thánh Kinh chép, có thực không? Phép lạ đó có thực không? Trước khi trả lời, ta tìm hiểu thế nào là thực, tiếng thực có nhiều nghĩa: Ta thường nói “chuyện ấy có thực, tiểu thuyết ấy nói thực”. Hai chữ “thực” ấy, nghĩa khác nhau: Chuyện ấy thực vì đã xảy ra, tiểu thuyết ấy thực vì nói đúng tâm lý.

Những lá thư đầu tiên ấy thực là những bài toán, nhưng đúng là những “thư tình”.

Vậy Thánh Kinh có thực không? Thực chứ, nhưng thể văn hay cách kể lại biến cố không đúng, không hợp tâm lý!

5. Tin để Hiểu

Thực chất của biến cố, tôi không thấy được, tôi chỉ suy đoán theo cách bề ngoài mà tôi thấy. Đi đường tôi thấy hai người hôn nhau, đó là sự thật, đã xảy ra, tôi chưa nói được gì: Họ yêu nhau hay chào nhau? Nếu tôi nói họ yêu nhau, thì cái hôn đó là gì. Tôi tin nên tôi hiểu cái hôn đó là yêu. Muốn hiểu phải tin, cái hiểu tăng thêm cái tin, tiến lên như cái trôn ốc.

Thánh Kinh cũng vậy, các tác giả thuật lại các biến cố, nhưng các biến cố chỉ có ý nghĩa, vì các ông đã tin. Còn chúng ta ngày nay, tin hay không tin, ta có thể tìm hiểu chính bản văn nói gì. Nhưng ta sẽ hiểu khác, nếu ta chia sẻ niềm tin với các tác giả, nếu ta đi một hướng với tác giả.

Có vẻ rắc rối, nhưng thực tế sẽ sáng tỏ. Vậy, ý nghĩa bản văn là gì? “Đọc” là gì?

6. Ý nghĩa một bản văn

Thường khi đứng trước một bản văn, đặc biệt bản văn cổ, ta lý luận thế này: Tác giả có gì muốn nói đây, muốn chuyển đến ta ý nghĩ gì đây, ý nghĩ ông đã gói bọc trong ngôn ngữ và văn hóa của ông. Công việc của ta hôm nay là cởi cái gói ấy ra, rồi bọc lại bằng từ ngữ của ta hôm nay. Ta cho rằng có một ý nghĩ khách quan trong bản văn, một hạt cứng phải đập ra để lấy cái nhân.

Tuy nhiên sự việc không đơn giản. Khi lắng nghe hai cụ kể truyện về nửa thế kỷ đời mình, ta cố gắng hiểu hai cụ muốn nói gì, khi hiểu, ta lại biến đổi nó đi. Từ chiều hôm ấy, ta giữ hình ảnh về hai cụ, chắc chắn không như hình ảnh hai cụ có về mình, cũng không như hình ảnh một ai khác có về cụ.

Khi đọc một bản văn, ta làm lại nó theo cái hiện tình của ta: Ta sống biến cố đang kể, và thêm vào đó ý nghĩa ta vừa khám phá ra.

Như thế, đọc là cầm lấy bản văn và bắt nó phải nói cái gì cho ta hôm nay, cái gì có thể cho ta sống. Nhưng, ta không được bắt bản văn nói bất cứ gì! Do đó, ta phải nghiên cứu bản văn, dùng các phương pháp nghiên cứu nữa.

7. Một chuyện kỳ diệu?

Thánh Kinh kể lại một chuyện kỳ diệu: Thiên Chúa luôn luôn phán dạy với Abraham, Môisê, các ngôn sứ… luôn luôn làm những dấu lạ giải thoát kẻ bị áp bức, chữa lành bệnh tật… Nhưng điều đó có hệ gì đến cuộc sống hàng ngày, tầm thường của tôi và của thế giới hôm nay? Thiên Chúa đã nói suốt 2000 năm, bây giờ thì im lặng! Số người bị áp bức, khổ đau, vẫn còn… sao Thiên Chúa không hành động đi?

Đó là vấn nạn rất thực tế. Những gì đã nói trên, cho phép ta hiểu rằng, sở dĩ có vấn nạn như thế, chỉ vì người ta so sánh các lịch sử trên hai bình diện khác nhau.

Sử gia nghiên cứu, cho lịch sử Israel là tầm thường: Một tiểu nhược quốc! Tín hữu đọc Sách Thánh, đọc trong đó Lời Thiên Chúa và sự can thiệp của Ngài, cũng như hai người yêu nhau khám phá ra bài toán là thư tình.

Lịch sử Israel cũng tầm thường, vô vị như lịch sử của ta hôm nay! Người vô tín ngưỡng chẳng thấy đâu là vết Thiên Chúa!

Đọc Thánh Kinh phải giúp ta đọc lại đời sống mình với con mắt của người tín hữu. Và bấy giờ, ta thấy Thiên Chúa vẫn nói với ta như đã phán với các Tiên Tri, Ngài luôn hành động nữa! Và đời ta sẽ bừng sáng lên chan hòa những kỳ diệu!

Hành hương thánh địa - Ảnh: lexpress.fr

ETIENNE CHARPENTIER (*)

Trích “Du lịch Thánh Kinh”, tr. 5-13

---------------------------------------------

(*) Étienne Charpentier (1930 - 1981), học Kinh Thánh tại Học viện Kinh Thánh Roma và trường Kinh Thánh khảo cổ Giêrusalem. Tác giả được Hội đồng Giám mục Pháp giao trách nhiệm tạo lập 'Service biblique Évangile et Vie', ngài cũng điều hành việc biên tập bộ sách chú giải 'Cahiers Évangile' do nhà xuất bản Cerf.