Du lịch Thánh Kinh (11)
(tiếp theo)
Chương 6: Thời đô hộ Ba Tư (538-333)
Số phận Israel thật là khốn khổ, đáng thương: hết lưu đày thì đến đô hộ, hết Ba Tư đô hộ, thì đến Hy Lạp rồi La Mã đô hộ. Ở đây, ta
dừng lại thời đô hộ của Ba Tư.
I. Cái nhìn lịch sử
Năm 538: Sắc lệnh Syrus cho phép người Do Thái về sinh sống nơi quê hương đất tổ, và xây lại đền thờ (x. Ed 1,2-4). Cử chỉ này phù hợp với tinh thần khoan dung của nhà vua, đồng thời cũng là một lá cờ chính trị cao tay của ông: Giêrusalem phải là tiền đồn pháo đài cho ông chống lại Ai Cập.
Trong hai thế kỷ thuộc địa Ba Tư, người Do Thái là thành phần cốt cán của nước thượng vị, với những ông vua đại đảm, trong khi đó cường quốc Hy Lạp đang lớn lên. Ta thử ghi lại mấy điểm mốc của giòng sử sôi động này:
1. Nước thượng vị Ba Tư
Chiếm được Babylon rồi, vua Syrus tiến quân về phía đông. Ông mất tại đó năm 530. Con ông là Cambyse thắng được Ai Cập nhưng lại thua Êtiôpi.
Trong triều đại dài của mình, vua Đariô I (522-486) tổ chức nước thượng vị. Ông chia ra làm 20 tỉnh, đứng đầu là tỉnh trưởng, chưởng ấn và đại tướng. Các tỉnh phải nộp thuế nặng. Hệ thống đường xá rất thuận tiện: Đường “Hoàng đạo” đi từ Suse đến Êphêsô dọc theo Địa Trung Hải. Ông xâm lược Thrace và Maxêđoan, phía bắc Hy Lạp, nhưng thất bại ở Marathon (490).
Vua Xerxès I, bị Hy Lạp đánh bại ở Salamine (480), vua Artaxerxès I (464-424) phải dẹp loạn ở Ai Cập. Ông Nêhêmi, gốc Do Thái, làm quan triều đình Ba Tư, được phái đi Giêrusalem; Giêrusalem trở thành một tỉnh độc lập.
Hy Lạp đang trên đường hoàng kim: Thời đại của Périclès, về nghệ thuật (Parthénon), về văn học (Sophocle, Euripide), về triết học (Socrate, Platon)…
Do Thái với Samari, cả hai được hưởng một quy chế riêng: Tuân phục “Luật Thiên Chúa” Ed 7, 21 dưới sự lãnh đạo của Thượng Tế. Tình hiệp nhất mong manh này kéo dài được vài chục năm thôi.
Những vua cuối đời Ba Tư chỉ lo dẹp loạn trong nước, trước khi bị bốc đi bởi tân cường quốc Maxêđoan. Năm 338, Philip vua Maxêđoan thống nhất Hy Lạp. Năm 336, Alexandre con ông lên ngôi: Một kỷ nguyên mới đã bắt đầu.
2. Lưu đày về
Sắc lệnh vua Syrus giải phóng Do Thái: 50.000 người, lưu đày Babylon ra về, trong hai đợt.
Đợt I, năm 538, do ông Sheshbacar cầm đầu, trong đợt này có nhiều Tư Tế, một số Lêvi (Tob Ed 2, 40), nhiều người “được cho” nô dân và phục dịch đền thờ (Tob Ed 2, 43 và 55). Những người ít quan hệ về đạo và những ai đã lập cơ nghiệp tại Babylon, thì tình nguyện ở lại.
Cuộc tái định cư ở Giuđa gặp khó khăn. Người Samari đã ở trước, nhìn những kẻ đến sau với con mắt khó chịu. Họ muốn giúp xây lại đền thờ, nhưng người Do Thái từ chối, vịn lẽ đạo họ không tinh tuyền. Đối lại, người Samari ngăn cản việc người Do Thái muốn xây lại tường thành Giêrusalem. Những khó khăn ấy, cộng với thời tiết khô, tiền lại thiếu, nên công việc xây đền thờ phải dừng lại. Trong thời gian này, một môn đệ Isaia, gọi là Isaia III, giảng.
Đợt II, năm 520, đời vua Đariô, Hoàng thân Zorobabel và Thượng Tế Giosuê hướng dẫn về tới Giêrusalem. Hai ông xúc tiến việc xây đền thờ, và nhờ hai Ngôn Sứ Aggée và Dacari ủng hộ, đền thờ đã hoàn thành vào năm 515.
3. Năm 515 - Kỷ nguyên đền thờ đệ nhị
Đền thờ được tái thiết sau 5 năm cố gắng vượt bực. Các kỳ mục đã từng chứng kiến cảnh rực rỡ huy hoàng của đền thờ vua Salômôn xây, không khỏi bùi ngùi rơi lệ trước đền thờ mới này: Nó tồi tàn, lem nhem, vá víu! (Ed 3,10-13); (Ag 2, 3). Nhưng, sự kiện có đền thờ, là quan trọng. Đền thờ sau này được vua Hêrôđê xây lớn hơn và đẹp, từ năm 19 trước công nguyên đến năm 64 sau công nguyên mới xong, rồi sẽ bị quân Rôma phá bình địa vào năm 70.
Ta ghi kiểu nói: “Đệ nhị đền thờ”, không chỉ đền thờ, mà chỉ thời đại, từ khi lưu đày về cho đến năm 70 công nguyên: Thời đại Do Thái giáo.
Hai chuyến công du của ông Nêhêmi (445 và 432) cho phép xây lại tường thành Giêrusalem và công bố độc lập đối với Samari. Thời này, Ngôn Sứ Malaki nỗ lực khơi lại lòng tin cho dân.
Năm 398, ông Êdơra được vua Artaxerxès đặc phái về tổ chức lại xứ sở. Với bàn tay sắt, Thiên Chúa là Quốc Luật. Luật đó sẽ là Ngũ Thư của ta ngày nay.
Nghi lễ long trọng, mô tả trong Nêhêmi 8-10 vào trong những giờ phút quan trọng nhất của lịch sử Israel, đã chính thức khai sinh ra Do Thái giáo. Hội họp không trong đền thờ, mà ngoài công trường, không giết chiên dê, mà đọc sách Luật và cầu nguyện.
4. Mấy nét quan trọng
Nhiều chi tiết trong lịch sử Israel ta không biết. Sau đây vài nét đậm:
-
Uy quyền các Tư Tế. Chính các Tư Tế đứng ra tổ chức cộng đoàn. Các vị là những nhà lãnh đạo tôn giáo và chính trị.
-
Kiều dân Do Thái. Các kiều dân Do Thái trên thế giới họp thành cộng đoàn sinh động tại Babylon, tại Eléphantine bên Ai Cập. Cộng đoàn Alexandrie cũng bên Ai Cập, có lẽ mạnh nhất… Người ta nói đến cuộc phân tán Do Thái giáo đi khắp nơi, trung tâm vẫn là Giêrusalem.
-
Tiếng Aram, là tiếng chung, tiếng mẹ đẻ, rất thông dụng tại Ba Tư để giao thiệp và buôn bán. Tại Giuđê, tiếng này dần dần thay thế tiếng Hípri. Thời Đức Giêsu dân nói tiếng Aram và không hiểu Hípri nữa. Tiếng Aram đã đưa dân Do Thái vào thế giới đại đồng.
5. Sinh hoạt văn hóa
Thời này có các ngôn sứ Aggée, Dacari, Malaki, Abdias và Isaia III. Cũng thời này, các Tư Tế, Kinh Sư và Hiền Nhân có địa vị nổi bật.
Kinh sư Êdơra đọc Thánh Kinh, soạn Ngũ Kinh (Ngũ Thư), bổ túc các sách Ký Sự, sách Êdơra, Nêhêmi…
Các hiền nhân thu thập các tư tưởng của hiền nhân tiên tổ và viết thành sách. Các Thánh Vịnh cũng được góp lại thành bộ, thành sách.
II. Các Ngôn Sứ sau lưu đày
1. Aggée
Năm 520, Aggée loan báo cho dân một sứ điệp ngắn nhưng nghiêm khắc: “Thế là 20 năm lưu đày về, nhà các ngươi đã cất lên, Nhà Thiên Chúa vẫn hoang tàn”. Vấn đề muốn biết là Israel lập lại nước với hay không Thiên Chúa? Vấn đề luôn giá trị!
2. Dacari I (Dcr 1-8)
14 chương làm nên cuốn sách, chứa đựng lời giảng của hai ngôn sứ. Ở đây ta đọc Dacari I trước. Ông dựa theo lời giảng của Aggée nhưng với cung điệu riêng của ông, na ná như cung giọng của Khải Huyền.
3. Malaki
Khi ông giảng, thì đền thờ đã xây xong. Nghi lễ phụng tự áp dụng như trước lưu đày: Lễ về, người ta vẫn sống bất công, thất tín…
Ông phản ứng dữ dội, và tiếng ông có âm vang lớn, vang tới Tân Ước. Sách ông viết như một đối thoại giữa Thiên Chúa với dân Ngài, khai mào cho cuộc đối thoại quyết liệt trong Phúc Âm: “Xưa Ta đói… Lạy Chúa, có khi nào chúng tôi thấy Ngài đói? … Thiên Chúa phán: Ta yêu các con. Các ngươi dám vặn lại: Ngài yêu chúng tôi ở chỗ nào?
Câu “các ngươi nói” được lặp lại 8 lần như một điệp khúc vả vào những mồm miệng hay cãi, để vạch trần tội họ giấu kín: Như tội dâng của cặn bã (1, 6). Tư Tế không còn giảng Lời Chúa (2, 1), tội bỏ vợ (2, 10: bài suy niệm về hôn nhân tuyệt đẹp), tội không còn biết phân biệt thiện ác nữa (2, 17)…
Thiên Chúa loan báo sẽ sai Êlia đến trước ngày phán xét. Bản văn này đưa uy tín Êlia lên cao trong Do Thái giáo. Đức Giêsu sẽ tuyên bố ông Gioan Tẩy Giả đã đóng vai đó (Mt 17, 9).
4. Gio-En
Không biết vị ngôn sứ “Môi-sinh” này giảng khi nào? Môi sinh bị ô nhiễm là dấu hiệu ngày Chúa đến, ngày mà Chúa lột trần con người, và con người bị lột trần đó, Chúa sẽ mặc Thần Khí Ngài cho. Thánh Phêrô trưng dẫn đoạn này trong ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2).
5. Lời Thiên Chúa
Có người ngỡ ngàng khi đọc Thánh Kinh để tìm “Lời Thiên Chúa” thì lại chỉ thấy “lời người phàm”!
Vì người ta hay có ý tưởng ma thuật về Lời Thiên Chúa: Như một cái gì từ trời rớt xuống. Trong khi đó thì Thiên Chúa tỏ mình ra trong lịch sử, qua các biến cố đời sống: Mỗi người phải tự khám phá ra…
Ngày nay ta tin Đức Giêsu là con Thiên Chúa! Thế nhưng , người đồng thời với Chúa, chỉ coi Ngài như một người giống y như họ thôi! Thánh Gioan viết: “Chúng tôi đã thấy Ngôi Lời”, nhưng “Điều chúng tôi thấy và nghe về Ngôi Lời” (Ga 1, 1), như là qua cái chúng tôi đã thấy (về cử chỉ con người và lời lẽ như chúng tôi), chúng tôi linh cảm được nhờ lòng tin và Thần Trí về Ngôi Lời.
Dân Israel sống những việc thường xảy ra: Kẻ tin và nhất là Ngôn Sứ mới đọc được trong đó một lời của Thiên Chúa, cũng như ta đọc ra một lời qua cử chỉ người bạn: Một nụ cười…
Nhưng, sợ lầm chăng? Ở đây, tin vào Thánh Linh là quan trọng: “Thánh Thần sẽ đưa các con đến sự thật trọn vẹn” (Ga 16, 13).
6. Isaia III (Is 56-66)
Dân đang chán nản, mất tin tưởng đến ngã lòng… làm sao cho họ phấn khởi, cho hy vọng lại vươn lên! Đó là sứ mệnh của ông.
Sứ mệnh khó khăn, vì những kẻ nghe ông đang chia rẽ nhau: Kẻ từ Babylon trở về - Người Do Thái ở lại không đi – Kiều dân mới đến – Kiều bào về thăm quê. Chia rẽ và hận thù, kỳ thị và ngoại giáo làm mất hy vọng… Với tất cả, Ngôn Sứ truyền cảm niềm tin phấn khởi của mình. Cao điểm là chương 61. Các chương khác hướng về đó.
Is 56,1-8: Ngoại kiều cũng có thể làm dân Thiên Chúa, vì nhà cầu nguyện là nhà dành cho mọi nước. Thiên Chúa tập họp muôn dân làm dân mới của Ngài (66,17-24).
-
56, 9 – 57, 21: Ngôn Sứ than phiền có người cứ tưởng mình đương nhiên thuộc về dân Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa có quyền cho “cô gái Sion” sinh hạ dân mới.
-
58: Cách sống đạo, cách ăn chay đẹp lòng Thiên Chúa là chia sẻ cơm bánh, xóa bỏ bất công, giải thoát kẻ bị áp bức. Kẻ có tình yêu được chúc phúc, kẻ chối tình yêu bị chúc dữ.
-
59,1-15: Lời kết tội mang kết quả: Dân sám hối, và cầu nguyện dọn đường cho Kinh Lạy Cha sau này (64,1-11)
-
59,15-20 và 63,1-6: Đừng trêu chọc Thiên Chúa! Ngài nghiền nát họ như nghiền bồn nho. Khải Huyền áp dụng câu này cho Đức Kitô, đổ máu ra vì tội nhân loại (Kh 19, 13).
Cao điểm là chương 61. Hai chương hai bên là 60 và 62, làm nên đường cong rất đẹp, song song:
-
Thiếu nữ Sion, vui lên (60 và 62): đọc và tìm các diễn viên: Thiên Chúa có nhiều bộ mặt. Thiếu nữ Sion là ai? Hình ảnh diễn tả địa vị thay đổi… Những người con trai từ đâu mà đến? Cái gì thu hút họ? Ở đây ta có hình ảnh dân Thiên Chúa, hình ảnh dân giáo hội, như Vương Cung Thánh Đường, rực rỡ trong đêm tối, chiếu soi người đi…
Thần Khí Chúa ngự trên tôi (61). Chương này có ba phần
-
61,1-4: Ngôn Sứ tự giới thiệu, được gọi là thế nào, có sứ mệnh gì? Đưa Tin Mừng cho ai?
-
61,5-9: Ông nói với dân. Thiên Chúa nói qua ông về tương lai: Ngài hứa gì? Dân làm gì?
-
61,10-11: Ngôn Sứ và dân, cả hai đều hồ hởi, lý do và nguồn gốc?
Đọc chung cả ba chương 60, 61 và 62: Tin Mừng có khả năng làm cho kẻ lưu đày được phấn khởi không?
Đọc Luca 4,16-21: Sứ mạng Đức Kitô qua Isaia, giúp ta hiểu ý nghĩa dấu lạ và sứ điệp Bát Phúc.
III. Sách Luật hay Ngũ Thư
Năm 398 (?) ông Êdơra về Giêrusalem với sứ mạng tổ chức cộng đoàn dàn xếp vụ rắc rối với Samari.
1. Luật
Ông công bố luật của Chúa Trời là Quốc Luật (Ed 7, 21). Đó là Ngũ Thư chúng ta ngày nay. Như thế ông phải nắm trong tay nhiều sử liệu khác, nhiều Truyền Thống khác, như:
-
Lịch sử miền Nam cũng gọi là Truyền Thống Giavít (J)
-
Lịch sử miền Bắc cũng gọi là Truyền Thống Êlôhít (E)
Hai Truyền Thống này đã có lần dung hợp thành một (Jêhôvít)
-
Truyền Thống Nhị Luật (D)
-
Lịch sử Tư Tế hay Truyền Thống Tư Tế và sách Lêvi (P).
Với những tài liệu trên, ông làm một tổng hợp có hệ thống mạch lạc (tương đối). Lịch sử Thánh bắt đầu từ tạo thiên lập địa đến khi ông Môisê qua đời, trong đó nổi bật hai nhân vật then chốt: Abraham và Môisê.
2. Luật Tôra, Văn Bản và Truyền Tụng
Đối với người Do Thái, Lời Thiên Chúa là Luật (Hípri là Tôra) Thiên Chúa đã ban cho họ trên núi Sinai.
Lời đó được viết thành văn. Đó là trọng tâm của Thánh Kinh. Lời đó cũng được truyền tụng qua cửa miệng. Đối với người Do Thái, Thánh Truyền cũng quan trọng như Thánh Kinh.
Các Sấm Ngôn cũng là Lời của Thiên Chúa, tuy không cùng một âm điệu. Trong phụng vụ, Ngôn Sứ có nhiệm vụ soi sáng. Các văn phẩm khác được tôn kính, nhưng không quan trọng bằng Luật và các Ngôn Sứ.
Hai nhân vật biểu tượng Thánh Kinh là Môisê và Êdơra: “Nếu Luật không được ban hành qua ông Môisê, thì ông Êdơra là người xứng đáng nhất để nhận Luật đó”.
3. Các sách Ký Sự I & II, Êdơra, Nêhêmi
Tất cả được biên soạn vào đầu thời đô hộ Hy Lạp. Sách Ký Sự, tác giả vô danh, nhưng đầy tham vọng: Viết lịch sử từ Ađam tới Êdơra! Tài liệu tham khảo là hai chục cuốn sách, quen biết (Samuel, Các Vua) và không biết… Hai tập đầu được chia thành bốn: I và II Ký Sự - Êdơra – Nêhêmi.
Rất lý thú khi so sánh Ký Sự với truyện Samuel, hay Các Vua, ta sẽ thấy thế nào là lối kể truyện (Midrash) của người Do Thái.
Một thần học về lịch sử: Muốn dạy dân phải sống thế nào hôm nay, tác giả lý tưởng một thời gian lịch sử: Chẳng hạn, thời Đavít-Salômôn. Ông lướt qua rất nhanh từ Adam đến Đavít (bằng các gia phả). Về vua Đavít ông chọn những cái anh hùng, bỏ cái không hay (tội Đavít, sa ngã Salômôn). Đavít là vua hợp ý Thiên Chúa, lập thủ đô, thống nhất đất nước, chuẩn bị xây đền thờ và tổ chức phụng tự.
4. Nêhêmi 8-9
-
Nh 8: Phụng tự có những nhân tố nào? Nơi chốn? Ai chủ sự? Có gì mới mẻ, sánh với phụng tự đền thờ? (Tob 8,5).
-
Nh 9: Dân thú tội mình theo mốc thời gian: Sáng tạo, gọi Abraham, Xuất Hành. Sám hối dựa vào lòng khoan dung của Thiên Chúa.
IV. Sách Khôn Ngoan
1. Ai đã viết ra?
Thưa các bậc hiền nhân quân tử, các vị sống lương thiện, liêm khiết, lại trầm tư mặc tưởng, suy nghĩ về những vấn đề lớn của nhân sinh và thế sự: Sống, chết, đau khổ, tình yêu, sự dữ… Đời sống phải chăng phi lý? Mỗi người tùy trình độ, trẻ hay già, giáo sư hay công nhân, giám đốc hay nội trợ đều có cái triết học của mình, có lối sống khôn ngoan, có cách sống của mình.
Các triết gia và thi sĩ đào sâu những suy tư đó, triển khai và viết thành những tác phẩm. Đối với Israel có cái gì giống y như vậy. Từ ngày khai sinh, họ đã tìm hiểu ý nghĩa cuộc đời, suy nghĩ về các vấn đề lớn… diễn tả qua những Cách Ngôn (ca dao tục ngữ), trong các kinh nguyện.
Nhất là sau lưu đày, các tác giả nghiền ngẫm lại các suy tư đó mà các sách đã lần lượt ra đời.
2. Ai là hiền nhân trong Israel?
Bất cứ người Israel nào: Khôn ngoan là của mọi người. Các ca dao tục ngữ là túi khôn ngoan của dân gian.
Vua: Có nhiệm vụ cai trị dân, phải biết phân biệt chính tà, phải được chia sẻ sự khôn ngoan của Thiên Chúa.
Kinh Sư: Khôn ngoan vừa của dân, vừa của trí thức học được ở trường. Lý Lục hay Kinh Sư thường làm thư ký triều đình, giúp giải đáp nhiều thắc mắc, nhưng cũng gây nhiều đụng độ với các Ngôn Sứ, vốn là trạng sư của người nghèo.
Các hiền nhân sau lưu đày: Là những vị đã được tôi luyện trong gian khổ: Lẽ khôn ngoan của các vị được coi như một đặc ân của Thiên Chúa, Đấng Khôn ngoan duy nhất.
3. Những sáng tác khôn ngoan thời Babylon
Ta bắt đầu với hai sách được công nhận vào bộ Thánh Kinh:
Sách Bà Rút
Thiên Chúa cũng biết khôi hài! Muốn bảo toàn đức tin, ông Êdơra bắt dân phải hủy bỏ các vụ hôn nhân dị giáo. Thiên Chúa ra như chịu vậy! Thế nhưng Ngài đã linh hứng cho câu chuyện hi hữu sau đây. Nguyên ông Boót là người giàu có, đạo đức nhất vùng Belem, đã cưới nàng Rút, người ngoại giáo Môáp. Từ gia đình này một cậu bé sinh ra là Obét, bố của Giétxê, ông nội vua Đavít!
Bài học đại đồng phổ thế cho ai tưởng là mến Chúa vì đã giữ luật đạo: “Đúng, yêu mến Ta, nhưng không cuồng tín. Phải sáng suốt, đừng lẫn phương tiện với cứu cánh…”. Tên Bà Rút được ghi trong gia phả Đức Giêsu (Mt 1, 5).
Sách Giôna
Vị Ngôn Sứ bất đắc dĩ, dám chống lại ý Thiên Chúa: ông Giôna đóng vai chính. Thiên Chúa sai ông đi giảng ở Ninivê về hướng đông. Ông xuống tàu trốn về hướng tây: Nằm dưới hầm tàu ngủ, trong lòng biển, rồi trong lòng cá… Thiên Chúa khiến cho cá nhả ông ra trên bãi biển hướng đông. Ông vào thành Ninivê giảng… Dân sám hối… Thiên Chúa đã tha…
Lại bài học đại đồng nữa. Thiên Chúa thương yêu hết mọi người: “Ngài không muốn cho ai chết, Ngài muốn họ ăn năn và được sống” (Ed 33, 11). Ông Giôna sẽ là dấu chỉ Đức Giêsu truyền giảng sám hối (Lc 11, 29; Mt 16, 4) và theo thánh Mátthêu ông còn là hình ảnh Đức Kitô sống lại nữa (Mt 12, 4).
Midrash và Targum
Vấn đề hiện đại hóa Thánh Kinh đã được người Do Thái đặt ra trước. Lời Thiên Chúa được ban bố trong một hoàn cảnh khác hẳn ngày nay. Thế nên phải đọc làm sao để rút ra ý nghĩa cho hôm nay. Có hai cách: Midrash và Targum.
Midrash (gốc darash là tìm tòi) là cách giải thích hay là chính những sách giải nghĩa Thánh Kinh. Có hai thứ Midrash:
- Midrash halakak (đường đi): Quy luật phải giữ, phải giữ các luật (halakhết, số nhiều của halakak),
- Midrash aggadah: (kể chuyện) có mục đích khuyến dụ.
Lịch sử Tư Tế đọc lại các Truyền Thống trong bối cảnh lưu đày để tìm ra ý nghĩa và hy vọng. Công việc nhà ký sự là tìm trong lịch sử một lối sống vương quốc của Thiên Chúa, đó là cách móc nối với Midrash halakak. Còn sách Bà Rút và ông Giôna là hai mẫu Midrash aggadah điển hình.
Targum là dịch bằng miệng ra tiếng Aram. Tiếng dùng trong phụng vụ, dân không hiểu được nữa, nên phải dịch ra tiếng Aram là tiếng bình dân. Nhưng thay vì dịch chữ, họ dịch ý theo như họ hiểu lúc bấy giờ.
Những bản văn Targum được công nhận ngay từ đầu công nguyên. Các Kitô hữu tiên khởi rất ưa lối giải nghĩa Thánh Kinh này. Vì thế các trình thuật về đời thơ ấu của Đức Giêsu đều thuộc loại Midrash!
Gióp
Vào thời các thi sĩ Hy Lạp viết lịch sử về con người, thì một nhà thơ Do Thái viết bi kịch con người đau khổ đó là: Sách ông Gióp.
Sách ông Gióp vẽ lên thảm kịch của mọi người đau khổ mà không giải thích được. Gióp tin ở Thiên Chúa, sống đời công chính, bị đau khổ chèn ép tư bề, ông tự vấn lương tâm, ông thấy mình vô tội!
Bạn hữu đến thăm, an ủi ông bằng những lời lẽ đạo đức cổ truyền: “Anh phải đau khổ vì bạn anh đã phạm tội! Chúa thương anh, Ngài thử anh đó!”
Nghe vậy, ông Gióp la lên, nổi loạn… Thiên Chúa vẫn im lặng!... Cuối cùng, Thiên Chúa lên tiếng, không để giải thích, để an ủi mà để nhấn ông xuống bùn đen! Thiên Chúa hạch tội ông: Ngươi lấy quyền gì bắt Ta trả lời? Ông sấp mình thờ lạy… Thế là vẫn không ai hiểu tại sao có đau khổ? Sách ghi lại những cuộc nổi loạn của con người trước đau khổ, cả những lộng ngôn: Nhưng tất cả lại trở nên những lời kinh thắp sáng cuộc đời!
Về sách Gióp, nên đọc:
- Thất vọng của ông: 3; 6-7; 29-30 (Thiên Chúa ở lặng).
- Thi ca về khôn ngoan, duy Ngài biết bí mật: 26.
- Ông chất vấn lương tâm. Thiên Chúa lên tiếng: 38
Sách Khôn Ngoan
Sách này cho ta biết nền văn học khôn ngoan đã tiến triển. Sách gồm 9 tập, được biên soạn vào những thời kỳ khác nhau: Xưa nhất là đời vua Salômôn (chương 10-22); hai chương 30 và 31 lại do tác giả ngoại giáo: Đó là bằng chứng đại đồng của Khôn Ngoan.
Các chương 22, 17 – 24, 22 rất gần với bản Ai Cập: Khôn ngoan của Aménémopé. Chương đầu và cuối (1-9 và 31) được chép sau lưu đày.
Nên đọc:
- Kính sợ Thiên Chúa (10, 27; 14, 2.26-27).
- Đức Chúa là Thiên Chúa, Ngài làm gì? (10,22.29; 11, 1).
- Các phương pháp giáo dục tích cực: 10, 13; 12, 1; 19, 19…
- Một số nhân đức: yêu thương, công bình, khiêm tốn: 12, 28; 11, 2;
- Một số bộ mặt phụ nữ: 11, 22; 18, 22; 19, 13; 21, 9.19; 27, 15…
- Một bức họa về phong tục: Ngoại tình: 7,6-27; lười: 19, 24; 24,30-34; buôn bán: 20, 14; say rượu: 23,29-35…
Cách Ngôn Sumer (cuối thiên niên kỷ 2)
Đối với người nghèo, chết đi thì hơn là sống, có bánh lại không có muối, có muối, thì lại không có bánh…
Ai chưa bao giờ phải nuôi vợ con, thì chưa biết bị xỏ mũi là gì? Bình nước nhỏ trong hoang địa là mạng sống của con người. Vợ là tương lai của chồng. Con trai là nơi nương tựa cho cha. Con gái là nơi giải cứu cho cha, nhưng con dâu là địa ngục cho cha!
Bà Khôn Ngoan (Cn 1-9)
Các chương đầu (cũng như 31,1-9) được soạn thảo sau, chắc là thời Ba Tư. Tác giả lấy lại sứ điệp của Nhị Luật, của Giêrêmi, của Isaia II. Thầy dạy con trai, cũng là trò mình, dạy sống khôn ngoan, yêu tha nhân (3, 27), tránh buông thả. Tình yêu được hát lên với âm điệu của Diễm Ca sau này (5,15-23).
Trong vài đoạn, khôn ngoan được nhân cách hóa như một Bà Khôn Ngoan (đối chọi với Bà Điên Rồ: 9, 13). Bà là nữ Ngôn Sứ, là Bà Chủ, là Ái Nữ của Thiên Chúa (8,1-31).
Ta đọc bản văn đặc sắc:
Cách Ngôn 8,22-31
| 22 Đức Chúa đã sinh hạ Ta, ngay lúc ban đầu trước mọi công trình của Ngài. | Trước cả sáng tạo |
| 23 Tự đời đời Ta đã được nắn hình từ phút đầu tiên, trước khi có địa cầu. | được hiến thánh |
| 24 Khi chưa có vực thẳm, thì Ta đã có, cả khi chưa có mạch nước nào. | Tv 2, 6 |
| 25 Trước khi đồi núi giương lên, đã có Ta. 26 Trước khi có đất, ruộng, trước khi có bụi cát, đã có Ta. |
|
| 27 Khi dựng nên các tầng trời, Ta đã có ở đó; khi vẽ một vạch tròn trên vực thẳm, đã có Ta. | Trong khi sáng tạo |
| 28 Khi có mây tụ trên cao; khi tháo suối nước chảy dưới vực thẳm 29 Khi truyền cho biển không được tràn bờ, Khi đặt nền móng cho địa cầu, 30 Bấy giờ Ta ở bên Ngài, Ngài là chủ công trình, |
|
| Bấy giờ Ta là niềm hoan hỉ cho Ngài, ngày ngày Ta đùa dỡn trước nhan Ngài | như ái nữ hay nữ tử |
| 31 Chơi vui trên đất Ngài Vì Ta vui sướng Được ở với con cái loài người. |
|
Ai là diễn viên? Thiên Chúa làm gì? Khôn ngoan làm gì? Tương giao với Thiên Chúa? Với tạo vật? Với loài người? Bản văn này giúp ta hiểu vai trò Đức Kitô thế nào? (x. C1 1,15-20).
Amen – Amôn – Amoun
c.30 có 3 từ nói trên. Đây là dịp tốt để ta hiểu sự phong phú, phức tạp của tiếng Hípri. Tiếng Hípri cũng như tiếng Ả Rập, chỉ viết bằng phụ âm thôi. Muốn đọc thì thêm nguyên âm vào, tùy theo nghĩa. Ba từ trên có 3 phụ âm là Aleph, Mêm, và Nun (MN), thêm nguyên âm vào thì có 3 từ khác nhau:
Amen: Nghĩa là chắc, đúng! Thật! Mong được như vậy!
Amôn: Nghĩa là người đặt chân móng, người xây nhà! Kiến trúc sư.
Amoun: Nghĩa là được đặt xuống, được dựng lên (tức là bé thơ, em nhỏ được nâng niu).
(còn tiếp)
Etienne CHARPENTIER
Trích “Du lịch Thánh Kinh”, tr.113-130.
-------------------------------------------------
* Bài liên quan:
.jpg)