Du lịch Thánh Kinh (12)

5 /5
1 người đã bình chọn
Đã xem:  | Cật nhập lần cuối:2015-06-04 10:21:21  | RSS

(tiếp theo)

Israel

Chương 7: Thời đô hộ Hy Lạp (333 - 63) và Rôma (sau 63)

Đế quốc Ba Tư sụp đổ. Đế quốc Hy Lạp vùng lên. Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết. Israel phải chịu đô hộ thôi. Chúng ta tìm hiểu:

  1. Những con người làm nên lịch sử
  2. Dacari, Ngôn Sứ duy nhất thời đó
  3. Israel, tinh thần bất diệt

I. Những con người làm nên lịch sử

1. Alexandre Đại Đế

Năm 333, sau chiến thắng Issos (bắc Antiôkia), oai phong và lẫm liệt, ông tiến vào Trung Đông. Năm 332, ông chiếm Ai Cập và lập thành Alexandre. Năm 331, ông chiến thắng Babylon, Suse, Persepoli. Năm 327, ông đến ranh giới Ấn Độ. Năm 323, ông trở về Babylon và băng hà tại đó, thọ 33 cái xuân.

Trong 10 năm thôi, ông đi hết thắng nọ đến thắng kia, trên đường dài 18.000 cây số. Trong nước thượng vị mênh mông, ông xây dựng 70 thành phố (hầu hết mang tên ông). Ông truyền bá văn hóa Hy Lạp, nghệ thuật Hy Lạp, với các vận động trường, các hồ tắm, ông sáng lập phương tiện thống nhất này là tiếng Kôinê, một thứ ngôn ngữ chung, tiếng Hy Lạp phổ thông, nói trong cả vùng Địa Trung Hải, trong vòng 8 thế kỷ, cho đến năm 500 công nguyên. Chính bằng tiếng này, Cựu Ước sẽ được dịch ra – gọi là bản LXX – và Tân Ước sẽ được viết ra.

2. Lagides Đại Tướng

Alexandre Đại Đế nằm xuống, các tướng nổi dậy, tranh giành nước thượng vị, sau cùng thì chia làm ba, lập nên các triều đại, mang tên vị vua đầu tiên: Triều Antigonides bên Hy Lạp, triều Lagides bên Ai Cập, triều Séleucides bên Syrie (từ Địa Trung Hải tới Ấn Độ).

Trong hơn 100 năm, Israel sống dưới quyền đô hộ Lagides. Các vua này thường tôn trọng các dân khác nhau, nên để người Do Thái sống quy chế Êdơra, như là được quyền tự trị rộng rãi.

Giữa thời này, ba trụ sở chính của Do Thái giáo bắt đầu xuất hiện. Trụ sở Babylon, cộng đoàn ít được biết đến, nhưng vẫn sống, lại còn có những văn phẩm quan trọng, đặc biệt sách Tamul của Babylon.

Trụ sở Ai Cập, cộng đoàn Alexandre phát triển mau lẹ. Thời Đức Kitô, số tín đồ chiếm 1/5 dân số thành. Cộng đoàn sống hội nhập vào xã hội Hy Lạp (Bản LXX) và sách Khôn Ngoan được viết bằng Hy văn. Đồng thời với Đức Giêsu, triết gia Do Thái Philon muốn suy nghĩ lại lòng tin bằng tiếng Hy Lạp.

Trụ sở Palestin, cộng đoàn lại chia rẽ. Một nửa muốn Hy Lạp hóa bằng sân vận động, hồ tắm và thay việc cắt bì bằng một thủ thuật. Nửa khác lại rất băn khoăn vì trào lưu văn hóa Hy Lạp dâng lên cao. Rất sùng đạo Do Thái, họ cố bám vào Luật và các nghi lễ cổ truyền. Chính trong bối cảnh này, các sách Qohétlet, Tôbia, Siracide (Huấn Ca) đã ra đời.

3. Séleucides Đại Tướng (198 – 63)

Những con voi Syrie đè bẹp quân Ai Cập. Còi bắt đạo đã hú lên cho dân Israel. Tại Paneion, nguồn mạch sông Giođan, tướng Séleucides Antiôkô III giật lấy Palestin khỏi tay Ai Cập.

Khác với triều Lagides, Séleucides cưỡng bách người Do Thái theo văn minh và đạo lý Hy Lạp. Năm 167, Antiôkô IV bãi bỏ các đặc ân của người Do Thái, cấm giữ ngày Sabát, cấm cắt bì, rước Thần Jupiter vào đền thờ. Cơn khủng hoảng thật là lớn, khi các Thượng Tế không còn nhất trí, có vị nghiêng theo nhà vua!

Một Tư Tế phất cờ khởi nghĩa. Ông ám sát viên thám tử vừa ra lệnh tế thần, rồi trốn lên hoang địa với 5 con trai: Con thứ năm tên là Giuđa, biệt hiệu Macabê nghĩa là “búa tạ”. Bằng những nhát búa mạnh và quyết liệt, ông đã giải phóng Giêrusalem, tổ chức tế tự hiến thánh đền thờ ngày 15/12/161. Hai anh em Giuđa, với con cháu, đã lập nền triều đại Macabê hay triều đại Asmonéenne.

Hỡi ôi! Lịch sử Macabê khai sinh trong máu anh hùng lại kết thúc trong vũng bùn dơ: Phản chủ, phản Chúa!

Năm 63, loạn lạc, chia rẽ, họ cầu cứu Rôma. Rôma sai tướng Pompê tới. Thế là Giêrusalem thành thuộc địa Rôma, tình trạng này kéo dài cho tới thế kỷ 7 công nguyên.

4. Các giáo phái Do Thái

Ba giáo phái xuất hiện thời này:

Pharisiêu: còn gọi là Biệt Phái, gồm những người đạo hạnh công chính, sống theo Luật, thạo Thánh Kinh, chủ trương xây dựng dân tộc trên các giá trị tinh thần. Họ trở thành ban lãnh đạo dân.

Étxêniêng hay phái khổ tu, được nói đến nhiều sau cuộc khám phá ở Qumrân (1947), họ sống trong cầu nguyện và suy gẫm, chuẩn bị đón Đức Mêsia đến. Thánh Gioan Tẩy Giả có lẽ thuộc nhóm này!

Sađukê là nhóm Tư Tế cấp cao, có tham vọng chính trị. Đừng lẫn họ với nhóm Tư Tế “cơ sở”, rất đạo đức, trung thành với Luật và dân.

II. Ngôn Sứ duy nhất thời Hy Lạp: Dacari II

Đơn phương độc mã, Ngôn Sứ giảng Lời Chúa suốt thời đô hộ Hy Lạp, thiên hạ chào ông là Dacari II. Nếu các chuyên viên chia Israel ra làm ba, và gán cho ba tác giả: Isaia I, Isaia II, và Isaia III; thì họ chia Dacari ra làm hai: Các chương 9-14 là của một Ngôn Sứ thời Alexandre Đại Đế: Dacari I, còn ông là Dacari II.

Sự kiện Alexandre ông vua trẻ này, lật đổ ngai vàng Ba Tư, khiến mọi người tin tưởng: Thiên Chúa sắp đến can thiệp! Thế nhưng theo Ngôn Sứ, sự thay đổi tận gốc chỉ có thể đến từ Thiên Chúa. Ông giảng lòng tin vào Đấng Mêsia, nghĩa là Đấng được xức dầu tấn phong (Hy Lạp là christos). Bức chân dung ông vẽ về Đấng Mêsia là độc nhất trong Thánh Kinh: Con Đavít, Con Thiên Chúa, là Tôi Tớ đau khổ! Đọc mấy đoạn này ta tưởng như xem cuốn phim về cuộc thương khó Chúa!

1. Vua Mêsia khiêm tốn và hòa bình (9,9-10)

Chương 9,1-8 phải chăng diễn tả Alexandre tiến quân qua Israel, rồi Ai Cập năm 333. Phải chăng vua này là Mêsia? Ngôn Sứ trả lời: không phải. Mêsia đến, hỡi con gái Sion, cỡi trên lưng con lừa tơ (9,9.10 và Mt 21, 5), không ỷ vào sức mình, nhưng vào quyền năng Thiên Chúa.

2. Kẻ chăn bị dân bán (11,4-17 và 13,4-9)

Nhiều hình ảnh trong đoạn này hơi khó hiểu. Phỏng đoán như sau: Chiên là dân, kẻ chăn là Tiên Tri hay Tư Tế. Kẻ buôn trục lợi là Tiên Tri giả, Tư Tế xấu, người mua là kẻ thù. Kẻ chăn bị dân bán với giá rẻ mạt, giá bán một tên nô lệ. Đức Kitô được đồng hóa với kẻ chăn lành và với Thiên Chúa (Mt 26, 31 và 27,3-10).

3. Thiên Chúa bị đâm (12, 10 – 13, 1)

Lời sấm kỳ dị: kẻ bị người ta đánh Thiên Chúa bảo là chính Ngài. Và hậu quả lạ lùng là nước vọt lên từ bên hữu đền thờ, rửa sạch từ trong lòng do Thánh Linh. (x. Ga 7, 38 và 19, 34): Gioan không cho ta bài học về y khoa (cạnh sườn nào bị đâm?) nhưng bài học về thần học: Đức Giêsu là đền thờ từ đó vọt lên Thần Khí.

III. Israel - Tinh thần bất diệt

Trải qua biết bao cuộc bể dâu, tinh thần Israel vẫn bất diệt: Điển hình là sinh hoạt văn hóa vẫn cao độ.

Phong trào Hy Lạp hóa gây nhiều phản ứng: Ngờ vực ác cảm có, thiện cảm có: Qohêlet, Siracide, Tôbia, Diễm Ca, Barúc, Khôn Ngoan. Thánh Kinh được dịch ra Hy Lạp: Bản Bảy Mươi (LXX).

Cuộc bắt đạo của vua Antiôkô và anh-hùng-ca Macabê đã khai bút cho nhiều văn phẩm như: Esther, Judith, 1 và 2 Macabê và làn sóng mặc khải, tiêu biểu trong Cựu Ước là sách Daniel. Nhưng Thánh Vịnh sắp sửa được ấn hành!

Ta tìm hiểu một số sách “Xuất bản” thời Hy Lạp.

1. Qohêlet (Giảng Viên)

Cuốn sách kỳ cục, chuyên tạt axít và tất cả những cái người đời ưa thích: “Phù vân, mọi sự là phù vân: tiền bạc, vui thú, danh vọng, tình yêu… Tất cả là mây bay, gió cuốn! Chỉ có điều đáng kể là “ăn ngon”. Còn Thiên Chúa? Nhưng Ngài ở mãi trên trời! Phần ở dưới đất, liệu mà xoay xở, khôn sống, mống chết, đời là phi lý!

Tác giả nấp sau một tên giả: Qohêlet, tiếng Hípri nghĩa là tập họp, là cộng đoàn. Có thể đây là tiếng nói của cộng đoàn, sau khi nghe một bài giảng hay, và mọi người đều kêu lên: Thiên Chúa quyền phép và nhân từ, mọi vũ hoàn chuyển biến đều theo kế hoạch của Ngài.

2. Tôbia

Câu chuyện tình cảm xã hội, loại Midrash Aggadah. Tác giả đọc lại lịch sử các Tổ Phụ, rồi rút ra một truyện gương mẫu, xảy ra thời lưu đày. Tác giả cho thấy Thiên Chúa hiện diện trong mỗi cuộc sống của con người chúng ta, tuy Ngài vẫn ẩn mình. Phải biết phát giác ra Ngài. Truyện Tôbia là chứng tích cảm động về Hôn Nhân và Tình Người.

Ông Tôbia đã già, lại bị mù, đang thất vọng; cô Sara còn trẻ, bị tiếng sát phu, đang có ý tưởng quyên sinh!

Nên đọc những trang kích thích nhất: Ông Tôbia thất vọng cầu nguyện (3,1-6), cô Sara chán đời cầu nguyện (3,11-15), chàng và nàng cầu nguyện buổi tối hôm thành hôn (8), ông Tôbia mù lại thấy (13,1-10).

3. Diễm Ca

Là một bài ca dài, tuyệt diệu về tình yêu Hôn Nhân, trong tất cả chiều dày của xác thịt, trong lối tả chân hiện sinh, mà các thi sĩ hiện đại nhất phải khâm phục.

Bản văn hiện nay có một lịch sử dài. Nó cảm hứng theo một bài thơ cổ về tình yêu, ngân nga trong đêm tịch cô đơn, có màu sắc ngoại giáo; tuy không nói đến Thiên Chúa, nhưng lại dẫn chứng St 2,23-24; “thịt bởi thịt tôi, xương bởi xương tôi”, với những sấm ngôn ca tụng tình yêu Thiên Chúa với dân Ngài theo kiểu tình nhân (Ml 2, 14).

Vào thời đại phụ nữ chỉ là nữ tì cho đàn ông, lời ca tình yêu bình đẳng, song phương, tự do, thoải mái… thực là một phép lạ!

4. Siracide (Huấn Ca – Nhị Kinh)

Đứa cháu có hiếu dịch ra Hy Ngữ tác phẩm của ông nội viết vào năm 190. Văn minh Hy Lạp là một cám dỗ rất lớn. Hơn ai hết, lớp người trẻ ôm mộng anh hùng xây lưng lại với mọi tập tục cổ truyền. Sách này tỏa mùi hương của giới trung lưu đạo đức, muốn chứng thực rằng: Trung thành với Luật và các tập tục của tiên tổ sẽ đưa đến Lẽ Khôn Thật.

Đây, một vài bông hoa tư tưởng đẹp và thơm:

- Bài ca lòng kính sợ Thiên Chúa (1,11-20) so với bài ca đức mến của thánh Phaolô (1 Cr 13)

- Sự khôn ngoan được đặt trong ta từ lúc mới là bào thai, và ta sinh ra với hạt giống khôn ngoan (4,11-19).

- Bà Khôn Ngoan giới thiệu vai trò mình trong cuộc sáng tạo và trong lịch sử (24). Chương này đã cảm hứng thánh Gioan khi viết Tin Mừng.

- Bài ca thiên nhiên thực đẹp (42,15-43) và bài tế tổ tiên rất khéo (44).

5. Vòm trời văn chương trong anh hùng ca Macabê

Chỉ 3 năm thôi (167-164), chiến công hiển hách của anh em Macabê đã gây ấn tượng mạnh cho Do Thái giáo. Trước sự đàn áp bằng võ lực của vua Antiôkô IV, người Do Thái phải chọn: Bỏ đạo hay tử đạo! Hành động của Giuđa Macabê, trước tiên có tính cách tôn giáo, thanh tẩy đền thờ, bảo vệ đức tin, rồi mới có ảnh hưởng chính trị là giải phóng dân tộc, lập nên triều đại… Thế nhưng các người kế vị đã làm tan nát cơ đồ!

Tuy nhiên Anh hùng ca Macabê đã gây chấn động trên trời văn chương Do Thái trong vòng một thế kỷ. Có ba minh họa sau đây:

Tay cầm gươm: Thuật lại chiến công của nhà Macabê. Theo sau là bà Giuđích đã xuống đường… Nữ hoàng Esther đã vào chầu vua…

Tay chắp lại: Nhiều người thấy chiến công Macabê nhưng vẫn thận trọng vì chỉ có Thiên Chúa mới giải phóng thật. Thái độ của họ là chắp tay cầu nguyện. Làn gió Khải Huyền của Đaniel thổi theo chiều đó!

Tay giơ lên: Khi giông tố qua rồi, thì từ cộng đoàn Alexandre, một nhà hiền triết, sống ngoài thảm kịch quốc nội, đã viết: Sách Khôn Ngoan của Salômôn, trong đó ông mô tả lòng tin sắt đá của Israel bằng văn chương Hy Lạp.

6. Sách Giuđích (Nhị Kinh) và Esther

Hai câu chuyện cảm hóa mọi người (loại Midrash Aggadah) nói lên tinh thần phấn đấu chiến công Macabê đã gây ra. Chủ chốt là Thiên Chúa hành động và cứu giúp. Thiên Chúa chọn phương tiện yếu nhất: Bàn tay đàn bà.

7. Macabê II (Nhị Kinh)

Sách này không tiếp nối Macabê I, vì được viết trước, có lẽ năm 124 (?) Đây là tổng hợp 5 tập ông Jason viết (Ông này sống sau ông Macabê một chút). Có 5 nét đặc biệt này:

Một thánh chiến: Ông Giuđa chiến đấu, nhưng Thiên Chúa đã cho thắng trận. Thế nên phải cầu nguyện khi bước ra chiến trường: Những can thiệp là lùng (8).

Cuộc tử đạo: Giữ vững đức tin, làm chứng nhân cho Thiên Chúa: Tử đạo. Cụ già Eleazar (6,18-31) và nhất là Bảy anh em Macabê (7).

Sự sống lại: (7,9.23.29) là niềm tin được diễn tả trong Đaniel (12, 2), cũng là niềm tin của nhóm Biệt Phái.

Cầu cho kẻ chết: (12,38-45) đây cũng là giáo lý về luyện tội. Tin Lành không tin nhận sách này, họ chỉ phó thác người đã qua đời cho Thiên Chúa thôi.

Sáng tạo từ hư vô: (7, 28) đây là điều mới mẻ. Từ trước tới giờ, sách chỉ nói: Thiên Chúa phân rẽ hay tách ánh sáng khỏi tối tăm (St 1).

8. Macabê I (Nhị Kinh)

Chắc là tác giả viết vào năm 100, và có thiện cảm với nhà Macabê. Ông kể chuyện 3 vị tiên khởi là Giuđa (3-9), Gionathan (9-12) và Simon (13-16). Ông phong cả 3 làm Ngôn Sứ và chứng thực chính Thiên Chúa đã cứu dân Ngài.

IV. Các vấn đề

1. Ngụy kinh và Nhị kinh

Kinh bộ là dịch tiếng Canon, nghĩa là quy tắc; Thánh Kinh là quy tắc đức tin. Sách nào được công nhận là Sách Thánh thì thuộc Kinh Bộ.

Có hai Kinh Bộ: Hípri và Hy Lạp. Kinh Bộ Hípri chỉ nhận những sách viết bằng tiếng Hípri. Người Do Thái ở Alexandre nhận thêm mấy sách bằng tiếng Hy Lạp nữa: Đó là Kinh Bộ Hy Lạp.

Kitô Hữu đọc Thánh Kinh bằng tiếng Hy Lạp, nên theo Kinh Bộ Hy Lạp. Nhưng thánh Giêrônimô dịch Thánh Kinh ra tiếng La Tinh, lại nghiêng về Kinh Bộ Hípri.

Thánh Kinh Công giáo về Cựu Ước nhận thêm 7 hay 8 sách so với Thánh Kinh Tin Lành: Những sách Công giáo gọi là Nhị Kinh (thừa nhận đợt hai), thì Tin Lành gọi là Ngụy Kinh. Đó là những sách Giuđích, Tôbia, 1 và 2 Macabê, Khôn Ngoan, Huấn Ca, Barúc và thư Giêrêmi.

2. Những Khải Huyền

“Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ may chữ rủi khéo là ghét nhau”

Trên đời, ta muốn cái may, ta cố tránh cái rủi, ta muốn khắc phục cái rủi, biến nó thành cái may, cho nó một ý nghĩa. Chính ta phải thay đổi, khi biết mình lầm.

Đó là điều các Ngôn Sứ làm: Các ngài giải thích các biến cố, đọc trong đó một lời của Thiên Chúa: Các ngài mời gọi thay đổi, sám hối.

Nhưng xảy ra đôi khi cái rủi quá lớn, hoàn cảnh bế tắc, không có lối thoát. Chỉ còn cách chờ đợi ngày mai sáng sủa hơn thôi. Bấy giờ mà có ai chỉ dùm cho một kẽ hở, thấy được một tia hy vọng, ôi thôi…

Những Khải Huyền thuộc loại đó. Nó phát sinh trong thời khủng hoảng. Các tác giả đều có cái nhìn bi quan về thế giới, đang bị Ác Thần kìm kẹp. Muốn loan báo hy vọng đã vươn lên, chỉ còn cách công bố Thiên Chúa sẽ can thiệp và làm mới mọi sự. Trong lúc chờ đợi hãy “khoanh tay” cầu nguyện.

Khải Huyền theo quan niệm bình dân là bói quẻ, là tướng số, là vận mệnh. Nếu chỉ có thế, thì cũng tội nghiệp! Khải Huyền còn là ánh sáng, là hy vọng.

Khải Huyền, Hy Lạp là Apo-caluptein, La Tinh là Revelare, nghĩa là vén màn lên hay kéo màn ra! Lịch sử ví như con đường dài đến vô tận, cuối đuôi ngoắt nghèo bị hút mất giữa sương mù bí mật của Thiên Chúa. Để giữ vững niềm tin, trong giờ phút quyết liệt nhất, Thiên Chúa có thể vén màn, cho thấy chung kết tốt đẹp của lịch sử, nhờ chiến thắng của Thiên Chúa.

Như một lực sĩ nhảy dài, nhảy xa…

Làm sao tác giả Khải Huyền có được mặc khải? Kỹ thuật của ông tương tự kỹ thuật của lực sĩ nhảy dài. Càng muốn nhảy dài bao nhiêu, anh hùng phải lùi xa lại đàng sau bấy nhiêu, để lấy đà chạy, chạy chậm rồi chạy nhanh, lấy đà nhún và lao mình về phía trước, bay trên gió, vụt tới đích mình muốn.

Tác giả Khải Huyền, giống như ta, không biết gì về tương lai. Nhưng ông tin chắc chắn là Thiên Chúa thành tín. Muốn biết Thiên Chúa kết thúc lịch sử thế nào, thì cứ xem trong quá khứ Ngài đã hướng dẫn lịch sử ra sao. Tác giả lùi lại đến ba, bốn thế kỷ trước thời ông đang sống, ông lướt qua mau lẹ lịch sử, đến thời đại ông, ông nhảy vọt tới phía trước, dự phóng cho thời đại cuối cùng, cái trớn mà ông đã khám phá ra khi đọc lịch sử.

Một trào lưu rất mạnh

Trong Thánh Kinh, chỉ có hai sách Khải Huyền của Đaniel và của thánh Gioan. Nhưng có rất nhiều văn phẩm thuộc loại này, có cả một trào lưu Khải Huyền rất phổ biến (Is 24-27; 34-35). Giữa những năm 150 trước công nguyên đến năm 70 sau công nguyên, trào lưu này viết ra nhiều sách, giúp ai nấy sống hy vọng và chờ cánh chung.

Đọc sách Đaniel

Sách này gắn chặt với anh-hùng-ca Macabê, viết vào năm 164, được xếp vào loại Tiên Tri, dùng hai thể văn: lịch sử và Khải Huyền.

Chuyện đạo đức hay là hài hước đen (Đn 1-6)

Thời chiến tranh, tinh thần chiến sĩ rất quan trọng. Để nâng cao, để bồi dưỡng, những sách truyện này, lịch sử anh hùng, rất kiến hiệu. Đưa lên sân khấu những nhân vật phịa ra, hài hước thế nào đến kể thù cũng phải cười, người họ đó! Nếu nói Thiên Chúa bắt vua Antiôkô thành súc vật ăn cỏ thì nguy hiểm, còn bắt Nabucôđônôsô, vua Babylon, đã sống cách đây 4 thế kỷ thì không sao (Đn 4).

Những chuyện như thế không chỉ để cười, nhưng để giáo huấn, để củng cố lòng tin. Tỉ dụ: Luật về thức ăn. Câu chuyện bốn thiếu niên Do Thái, được ăn trong cung điện, thay vì cao lương mỹ vị, thì chỉ ăn rau và uống nước, mà lại hồng hào khỏe mạnh (Đn 1).

Israel đang bị gọng kìm khổng lồ Antiôkô xiết chặt… Nhưng “Đừng sợ - Đaniel bảo – tên khổng lồ ấy có bộ chân bằng đất sét thôi”. Một hòn đá từ núi rớt xuống, trúng chân tượng là tượng đổ tan thành bụi” (2, 44).

Cho những người Do Thái thà chết hơn là thờ ngẫu tượng (3, 28), tác giả kể truyện 3 chàng trai bị ném vào lò lửa… và được thiên thần cứu thoát (Đn 3). Bài ca tuyệt diệu của trẻ được thêm vào sau.

Chương 6 viết: Dù ai giết bạn, Thiên Chúa vẫn đưa bạn ra khỏi mồ: Chuyện Đaniel bị ném vào hang sư tử là bằng chứng.

Trong bản văn, Đaniel đã có những nét riêng về Khải Huyền: Hòn đá chỉ sự can thiệp của Thiên Chúa, thị kiến giấc mộng, đặc biệt thể văn từ chương 7-12 là thể văn Khải Huyền.

Thần học bằng hình ảnh

Các sách Khải Huyền dùng một số hình ảnh về màu sắc về con số:

Về màu sắc:

Trắng chỉ sự thắng trận, sự trong sạch.

Đỏ chỉ võ lực, bạo động, chém giết, máu tử đạo.

Đen chỉ sự chết, sự dữ, bất lương.

- Về con số:

Số 7 chỉ sự hoàn hảo, đầy đủ, sung mãn.

Số 6 (7-1) chỉ sự bất toàn, thiếu sót.

Số 3 ½ (3 rưỡi) (nửa số 7) chỉ sự bất toàn, đau khổ, thử thách, bách hại; thời gian 3 rưỡi chỉ 42 tháng hay 1.200 ngày!

Số 12 chỉ 12 chi tộc Israel.

Số 4 chỉ quả đất có bốn phương.

Số 1.000 chỉ vô số không thể đếm được.

Còn một số hình ảnh khác:

Cái sừng chỉ quyền lực.

Tóc bạc chỉ vĩnh cửu.

Áo dài chỉ phẩm tước Tư Tế.

Đai vàng chỉ quyền của vua.

chỉ kẻ dữ.

Chiên chỉ người lành.

Nghiên cứu Đaniel 7

Đọc xong, bạn thấy mình lạc lõng vào cõi nào đây? Thế mới cảm nghiệm văn chương Khải Huyền là gì? Tác giả viết vào năm 164 (thời Macabê). Cứ giở từng phần, sau mỗi thị kiến thường có thiên thần giải thích.

Thị kiến bốn mãnh thú, cụ già và con người (7,1-14), muốn hiểu ý nghĩa bạn đọc 7,1-8 trước, sang 19-22, trở lại 9-14. Bạn đọc tiếp giải thích ở câu 15-18 và 23-28.

Đi vào chi tiết, bạn thấy có sự chống đối giữa 4 mãnh thú và con người: Mãnh thú thì từ âm phủ, sào huyệt ác thần, con người thì từ trời, cạnh Thiên Chúa. Mãnh thú được giải thích ở câu 17 (Tob 7, 1s Bj 2, 28a). Tại sao để ý đến số 4 vì nó biểu hiệu cho vua Antiôkô IV (câu 25).

Con người biểu thị ai? Xem câu 18 và 27 (Tob 7, 13st Bj 7, 13h). Mãnh thú sẽ gãy sừng và con người thì nhận vương quyền. Sứ điệp gửi Israel là chấp nhận cái chết mà không chối bỏ đức tin.

Kẻ chết sống lại (12,1-4). Đây là bản văn Thánh Kinh đầu tiên nói về kẻ chết sống lại cách rõ ràng: Thị kiến Ed 37 mới báo hiệu sự phục hồi của dân tộc Israel, và sự sống lại nói chung. Ở đây nói về cá nhân sống lại (Đn 12 khác Đn 7). Sự thể như sau:

Vua Antiôkô bách hại người Do Thái. Đa số thà chết, không bỏ đạo. Vấn đề đặt ra là sự sống là cái gì quý nhất, các vị tử đạo hy sinh nó vì Thiên Chúa, vậy các vị mất sự sống chăng?

Đaniel có hai từ để diễn tả sự sống lại:

Chương 12 diễn tả bằng từ trước/ sau: trước khi chết, bạn sống. Cái chết đưa bạn xuống lỗ: Ngủ ngàn thu. Sau cái chết, bạn sẽ ra khỏi mồ, thức dậy, bạn sẽ chói như ánh quang mặt trời, Đaniel dùng cảnh vũ trụ để giải thích (Bĩ cực thái lai).

Chương 7 diễn tả bằng từ thấp/ cao: Dưới đất bạn bị giết, nhưng bạn sẽ được đưa lên cao, để ở với Thiên Chúa và sống đời mới hoàn toàn.

IV. Khôn Ngoan tại hải ngoại

Tức là hai sách viết tại Babylon là sách Barúc và sách viết tại Alexandre là sách Khôn Ngoan.

1. Barúc (Nhị Kinh)

Sách này mang tên ông Barúc là thư ký của Ngôn Sứ Giêrêmi. Sách gồm 4 tập khác nhau về thời gian và về tác giả. Với hình thức hiện nay, đó là nghi thức sám hối rất đẹp. Mở đầu là thú nhận tội lỗi đã cắt đức liên hệ giữa ta với Thiên Chúa (1,1-14). Tiếp theo là suy niệm: “tội là lưu đày” xa Thiên Chúa, chỉ còn mong ở lòng nhân từ và thành tín của Thiên Chúa thôi; “giữ luật là được sự khôn ngoan” (3, 9 – 4, 4). Đoạn chót có âm điệu như Isaia II, khích lệ Giêrusalem, loan báo Thiên Chúa sẽ ban ánh sáng và Tình Thương. Hòa giải đã thành (4, 5 – 5, 9).

Nên đọc “lời kinh của kẻ lưu đày” (2, 11 – 3, 8), nhất là bài gẫm về sự khôn ngoan của Thiên Chúa (3, 32 – 4, 1).

2. Đức Giêsu, sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa

Nói chung, các ngôn sứ đều giúp ta hiểu sứ mạng Đức Giêsu làm sao, Ngài làm những gì. Còn các sách Khôn Ngoan thì cho ta thấy được “con người” của Ngài, Ngài là ai?

Trong Cựu Ước, sự khôn ngoan Thiên Chúa được nhân hình hóa, nhưng đó cũng chỉ là hình ảnh, như khi nói: “Lòng trí tôi ở trên cung trăng”. Sự khôn ngoan Thiên Chúa không gì hơn là chính Ngài… Khi Tín Hữu nói Đức Kitô là sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa, thì đã xưng Ngài là Thiên Chúa.

3. Sách Khôn Ngoan (Nhị Kinh)

Viết bằng Hy Ngữ tại Alexandre (Ai Cập) khoảng năm 50-30 trước công nguyên. Đây là sách cuối cùng trong Bộ Thánh Kinh Cựu Ước.

Tác giả là người Do Thái, sống xa những xáo trộn ở quê hương, nhưng theo lập trường nhóm “Giơ tay lên”, chủ trương đưa đạo hội nhập vào văn hóa Hy Lạp. Sách có 3 phần:

Vận động con người theo Thiên Chúa (1-5). Tác giả rất tế nhị nêu hai thái độ. Kẻ thì nói: Người ta sinh ra cách bất ngờ, sống vắn vỏi, chết là hết. Tác giả cho thái độ là vô luân, dẫn đến hưởng thụ, bóc lột. Kẻ khác bảo: Con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, có lúc bị bắt hại, nhưng khi xong phận sự, họ sẽ được ở cạnh Thiên Chúa.

Ca tụng Đức Khôn Ngoan (6, 1 – 11, 3). Tác giả mời gọi, nài ép ta cùng ông đi tìm sự khôn ngoan của Thiên Chúa, là bạn đường của đời ta. Trong một đoạn, tác giả cho ta thấy sự “Khôn Ngoan” đã dẫn dắt lịch sử, khôn ngoan đã dựng nên Ađam, đã lái con tàu Noe, đã làm cho Abraham tin Thiên Chúa hơn yêu con, khôn ngoan đaã hướng dẫn Môisê…

Gẫm về cuộc Xuất Hành (11, 4 – 19, 22). Ở đây, Khôn Ngoan như biến đi. Mười tai ương giáng trên Ai Cập là hình phạt người này, là cứu thoát người kia.

4. Nghiên cứu Kn 7,21-30

Tác giả đóng vai vua Salômôn: Ông không phải “sinh nhi tri chi”, ông đã nài xin và Thần Trí Khôn Ngoan đã được ban cho ông, hướng dẫn ông, làm cố vấn cho ông (7, 22).

Đức Khôn Ngoan tự giới thiệu có mọi đức tính: 7 đức tính, và tất cả đều ở mức cao nhất: 3 lần T (7,22-13).

Khôn ngoan trong liên hệ Thiên Chúa. Khôn ngoan trong liên hệ tạo vật và loài người. So sánh với St 1,26-27: Thiên Chúa dựng nên con người theo hình ảnh Thiên Chúa. Đọc 2 Cr 4, 4 và Cl 1, 15; rồi 1 Cr 11, 7; 2 Cr 3, 18; Cl 3, 10 để hiểu Đức Kitô là Đấng nào?

Đọc lại bản văn trên, và thay Giêsu vào các chỗ Khôn Ngoan.

(còn tiếp)

Etienne CHARPENTIER

Trích “Du lịch Thánh Kinh”, tr.130-148.

-------------------------------------------------

* Bài liên quan:

Du lịch Thánh Kinh (1)

Du lịch Thánh Kinh (2)

Du lịch Thánh Kinh (3)

Du lịch Thánh Kinh (4)

Du lịch Thánh Kinh (5)

Du lịch Thánh Kinh (6)

Du lịch Thánh Kinh (7)

Du lịch Thánh Kinh (8)

Du lịch Thánh Kinh (9)

Du lịch Thánh Kinh (10)

Du lịch Thánh Kinh (11)