Du lịch Thánh Kinh (2)

5 /5
1 người đã bình chọn
Đã xem:  | Cật nhập lần cuối:2015-03-28 06:55:28  | RSS

(tiếp theo)


III. ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU BẢN VĂN

Đọc bản văn, là rút từ bản văn ra cho tôi đang đọc hôm nay một ý nghĩa. Ta nói: Bản văn có nghĩa… điều làm tôi xúc động là… Nhưng cái nguy là ta bắt văn bản nói theo ý ta. Chính vì thế ta cần phải nghiên cứu.

Nghiên cứu bản văn, là tìm hiểu bản văn nhờ phương pháp phân tích, cho ta thấy được khoảng cách ấy ta chớ nên vội vã hay liều lĩnh xông vào. Ta phải nghiên cứu, đọc đi đọc lại bản văn, đào sâu ý nghĩa, không chỉ lặp lại ý thiên hạ nói. Ví dụ: Mục đồng đến thờ lạy Chúa, nhưng nếu đọc kỹ, họ đến không để thờ lạy mà kể lại cho Đức Maria những gì đã nghe và thấy (Lc 2,1-20).

1. Hai phương pháp phân tích

a. Phân tích lịch sử

Đọc lá thư Dì Hai viết, bạn hỏi: Dì muốn gì? Ta biết tính tình và đời sống của Dì rồi, ta hiểu Dì muốn gì cách dễ dàng.

Vấn đề của ta trước một bản văn Thánh Kinh cũng vậy: Tác giả Sáng Thế Ký nói gì đây? Thánh Luca ám chỉ ai?

Thế nhưng, Dì Hai còn sống và tôi biết Dì. Còn tác giả Sáng Thế Ký hay thánh Luca tôi chỉ biết qua bản văn thôi, nên tôi phải thận trọng.

Đặt tác giả vào đương thời thế nào?

Các sách Thánh Kinh đã viết cách nay hai hay ba ngàn năm, muốn đặt chúng vào thời của nó, ta phải dày công nghiên cứu các sử liệu về Israel, về các dân tộc liên hệ nhờ khảo cổ học… Công việc đó, dĩ nhiên dành cho các nhà chuyên môn. Ta trong hiện tại, hãy đọc kỹ phần dẫn nhập và chú thích của Thánh Kinh TOB hay BJ, rất thời danh và uy tín.

Đặt bản văn vào thời đại làm sao?

Ta đừng tưởng tác giả viết như cái máy những tư tưởng mình nghĩ. Không! Đó là tư tưởng thời đại họ sống.

Ta biết Luther sống vào thế kỷ 16. Đây là hai sách người Công giáo viết về ông. Cuốn năm 1900, viết đại ý: Luther là thầy Dòng phá giới, làm hư hỏng một nữ tu, vì kiêu ngạo đã đem máu và lửa đến cho Hội Thánh! Còn cuốn gần đây thì viết: Luther có những yếu đuối như ta, nhưng quả ông là thầy tu say mê Lời Chúa, yêu mến Hội Thánh, ông nói phải canh tân, phải trở về nguồn là Thánh Kinh và ông đã ly khai!

Hai cuốn sách, hai thời đại khác nhau. Cũng thế, tác giả Sách Thánh không trình thuật như nhau câu chuyện Abraham, nếu viết thời Salômôn, hay 500 năm sau, giữa cảnh lưu đày Babylon.

b. Phân tích cấu trúc

Đầu thế kỷ 20, xuất hiện một khoa học mới tên là Dấu chỉ học (Sémitique), dùng các dấu chỉ hay nhân tố, phát giác ra ý nghĩa của từ ngữ.

Các chuyên viên khoa này cho biết: không chỉ có văn phạm cho từng câu, mà còn có văn phạm cho cả bài, cả bản văn. Cũng như khi ta viết một câu, ta vốn giữ luật văn phạm (Mặc dù ta không để ý), thì khi ta viết một bài, một lá thư, một câu chuyện… ta phải giữ một số luật khác.

Ở đây ta lưu ý: Với phương pháp lịch sử, ta ra khỏi bản văn, đi vào ý nghĩa của tác giả để cắt nghĩa bản văn. Ở đây, ngược lại, ta tìm hiểu chính bản văn, không biết gì đến tác giả (Đàng khác, tác giả đã chết từ lâu); ta đào sâu bản văn, tìm hiểu mọi cách, quên đi cách hiểu của bất cứ ai. Đó là điểm son của phương pháp này.

Ta quan sát nhóm người vào rừng chơi. Ai thích nấm thì đi tìm nấm. Ai thích chim thì đi bắn chim. Ai thích nai thì đi săn nai… Rừng có tất cả những cái đó. Khi đọc một bản văn, vô tình ta đã có một ý tưởng nào: Ta đang cần một chỉ vẽ, một hướng đi, một khích lệ, và ta chỉ có thế thôi. Nhưng rừng đâu chỉ có chim, chỉ có nấm, chỉ có đá quý, chỉ có nai… Rừng có tất cả! Một bản văn cũng tương tự như thế.

2. Bản hòa tấu MOZART

Xin đúc kết những điều nói trên bằng bảng hòa tấu MOZART. Mở máy ra mọi người cùng nghe, nhưng âm hưởng khác nhau: Người chỉ cảm thấy buồn, người thì vui hẳn lên; người thì cho là réo rắt, người thì bảo là bi ai… mỗi người phản ứng theo tâm trạng của mình.

Chúng tôi tìm nghiên cứu bản nhạc, tìm hiểu giai điệu, tiết điệu, hòa âm, đối âm, phối khí… Chúng tôi đọc lại cuộc đời Mozart nữa. Khi dùng hai phương pháp này, chúng tôi khám phá nhiều điều mới mẻ, và tránh được nhiều hiểu lầm. Thế nhưng, bản nhạc không chỉ để nghiên cứu, mà còn để nghe và rung cảm…

Chúng ta thay chữ nghe bằng chữ đọc, và thay bản nhạc thành quyển sách, chúng ta sẽ có cái chủ yếu của phương pháp này.

IV. MỘT DÂN TỘC CÓ ĐỊA DƯ ĐỘC ĐÁO

Mở bản đồ Trung Đông ra, ta thấy biển và sa mạc, đồng bằng và thung lũng, trên đây nhiều nền văn minh sinh ra và phát triển.

1. Những nền văn minh lớn

Phía nam, trong lưu vực sông Nil 3000 năm trước Công nguyên, Ai Cập đã là một cường quốc, có nhiều triều đại do các vua gọi là Pharaon cai trị. Kinh đô khi thì ở miền bắc (Memphis), khi thì ở miền nam (Thèbes).

Phía bắc trên cao nguyên Tiểu Á, dân Hít-tít sống rất phồn thịnh, thế lực 1.500 năm rồi sa sút dần và biến mất vào thời đại Thánh Kinh.

Phía đông, là vùng Lưỡng Hà (Mêsôpôtami, tiếng Hy Lạp nghĩa là “giữa hai con sông”) cũng gọi là cái Lưỡi Liềm trù mật. Nơi đây, nhiều nền văn minh rực rỡ chen nhau thích cánh mọc lên, tiếp nối rồi biến đi, mấy thế kỷ sau mới hiện hình. Đó là các nền văn minh Sumer, Akkad,Babylon, Assyrie. Hiện nay là lãnh thổ Iraq, Iran, Mêđê và Ba Tư.

Nhiều dân tộc khác sẽ đến từ phía tây, từ Âu Châu ngày nay, xâm chiếm Trung Đông: Đó là người Hy Lạp, ba thế kỷ trước Công nguyên, rồi người Rôma, hai thế kỷ trước Công nguyên. Điều quan hệ đến ta là Israel, một dân tộc thiểu số, nằm trên đường mòn, hành lang của các đế quốc trên. Bây giờ ta hiểu đời sống, vận mệnh, văn hóa lệ thuộc, bị chèn ép mà không bị đè bẹp của Israel trước những nền văn hóa lớn, là cả một phép lạ.

2. Đất Canaan

Đất Canaan bao gồm lãnh thổ xứ Palestin ngày nay, chia theo bề dọc thành nhiều miền. Dọc theo Địa Trung Hải là một cánh đồng dài: Núi Carmen cắt ra làm hai. Miền giữa là vùng cao nguyên Galilê và vùng đồi núi Samari và Giuđa.

Sau cùng, phía tây là vùng thung lũng kỳ lạ của sông Giođan. Ta chú ý mực nước: Sông bắt nguồn từ chân núi Hermon, 200m cao hơn mặt biển. Tới hồ Hulê, còn cao 68m hơn biển, nhưng khi chảy đến hồ Tibêriát cách đấy chừng 15 cây số thì đã 212m thấp hơn mặt biển và khi rút về biển Chết thì là 392m dưới mặt biển!

Chính trên đất này, thế kỷ 12 trước Công nguyên, nhiều chi tộc đến định cư, năm 1.000 họ trở thành vương quốc của Đavít, Salômôn. Khi vua Salômôn băng hà, vương quốc thống nhất nổ tung làm hai: miền nam là vương quốc Giuđa, thủ đô là Jérusalem; miền bắc là vương quốcIsrael, thủ đô là Đamas.

Ta đoán xem lịch sử Israel sẽ bị nhào nặn, hun đúc và tôi luyện như thế nào bởi lịch sử các dân tộc khác.

V. MỘT DÂN TỘC CÓ NÃO TRẠNG TRUNG ĐÔNG

Dọc suốt lịch sử mình, Israel tiếp xúc với các nước láng giềng, quen thạo những tác phẩm văn chương của họ. Ta có dịp đọc vài dẫn trích. ở đây ta thử phân tích một số não trạng:

1. Não trạng Ai Cập

Người Ai Cập sống trên vùng đất đầy ánh sáng, nên khi trời tối, họ cảm thấy sợ hãi. Nhưng kinh nghiệm cho biết: Ban mai mặt trời sẽ mọc lên, đúng hơn sẽ hiện ra, sau khi đánh bại thần tối tăm. Mặt trời còn được gọi là thần trên các thần, thần dựng nên vũ trụ, dựng nên loài người.

Ta đọc bài ca Thần Mặt Trời do nhà vua Pharaon AKHÊNATON viết năm 1350, và đối chiếu với Tv 104 xem thế nào.

Ngài hiện lên hùng vĩ ở chân trời,

Như đĩa lửa, nguồn phát sinh sự sống.

Ở trời đông, lúc Ngài xuất hiện,

Ánh hào quang, tỏa lan khắp nơi.

Bên trời tây, khi Ngài ngự xuống,

Màn đen tối, bao phủ địa cầu.

Thánh vịnh 104 như sau:

Ôi lạy Chúa muôn trùng cao cả!

Áo Ngài mặc, toàn oai phong lẫm liệt,

Cẩm bào Ngài khoác: Muôn vạn ánh hào quang!

Chúa đặt vừng trăng để đo thời tiết,

Dạy mặt trời lặn đúng thời gian.

Đêm trở lại khí Chúa buông màn tối.

Ai Cập có sông Nil danh tiếng, với dòng thủy triều lên xuống rất đều, đem lại phì nhiêu cho đất nước và phồn thịnh cho dân tộc. Dó đó, người Ai Cập tính tình rất cởi mở và lạc quan. Chết không phải là hết mà là bắt đầu cuộc sống mới, huy hoàng tốt đẹp hơn.

2. Não trạng Lưỡng Hà

Khác người Ai Cập, dân Lưỡng Hà rất bi quan. Bởi lẽ cuộc sống rất bấp bênh, luôn là mồi cho bao tai họa thiên nhiên, hạn hán thình lình đổ xuống. Nhiều cuộc khai quật tìm cổ tích chứng minh, đại hồng thủy thời ông Noe là xác tín.

Các Thần mà người Lưỡng Hà thờ, tính bất thường, hay thay đổi, luôn đối chọi nhau, dễ nổi giận. Chỉ khổ cho dân! Sau đây là ba truyện thần thoại:

* Anh hùng ca ATRA HASIS (rất thông minh) tìm được ở Babylon, 1.600 năm trước Công nguyên, dài 1.645 câu, cho biết: Các Thần mệt mỏi vì phải làm cỏ vê, mới quyết định dựng nên loài người để làm thay mình. Các Ngài lấy máu một Thần bị giết, hòa với bùn đất, nắn lên hình người. Người ta sinh sản ra nhiều, gây hỗn loạn. Các thần giận, cho hồng thủy diệt hết. Thần Ê-a thương tình, mật báo đồ đệ đóng một chiếc tàu lớn hầu cứu cả nhà và gia súc…

* Thi ca ENOUMA ELISH (ở trên cao) cũng rất cổ kính, có lẽ vào khoảng năm 1100 trước Công Nguyên. Thần Nước Ngọt, Apsou, và Thần Nước Mặn, Tiâmát (Tehôm, vực thẳm, St 1, 2) yêu nhau, sinh ra các Thần. Các Thần gây lộn. Tiâmát định giết hết, nhưng Thần Ilarduk thắng thế, xẻ đôi Tiâmát như xẻ vỏ hến và làm nên vòm trời. Rồi dựng nên loài người từ máu Thần nổi loạn.

* Anh hùng Canaan GILGAMESH chắc là thời danh nhất của đất cổ Lưỡng Hà. Để chống lại Gilgamesh, các Thần dựng nên một quái thai là ENKIDU, sống giữa loài thú. Enkidu lấy hình mỹ nhân đến làm quen với Gilgamesh. Nhưng ngày kia Enkidu lăn ra chết, Gilgamesh thấy sự độc ác của cái chết, nên đi tìm cây trường sinh. Tới giếng rửa tay, thì con rắn cắn trộm cây đó. Gilgamesh đành phải chịu chết…

3. Tư tưởng người Canaan

Tư tưởng người Canaan được thế giới biết đến nhiều hơn khi khám phá ra thư viện Ulgarit là thành Rash Shamra hiện nay của nước Syrie, năm ấy là 1929. Nhờ đó người ta biết văn minh Ulgarit đã đạt tới cao đỉnh vào năm 1500 trước Công Nguyên, là thời đại các Tổ phụ.

Thần của người Canaan gọi là EL (một trong các danh hiệu chỉ Thiên Chúa, trong Thánh Kinh ELOHIM là số nhiều, chỉ uy quyền của Thiên Chúa). EL là Thần chính, có hai Thần phụ là BAAL, Thần bão táp và mưa gió, đôi khi gọi là Thần ngự giá đằng vân (như trong Tv 68, 5); và ANAT sau gọi là ASTATE, Đó là Thần chiến tranh, Thần ái tình, Thần sinh sản.

Sống tại địa phương, dân Israel, nhất là tại vương quốc miền bắc, rất có thiện cảm với thứ tôn giáo pha mùi tính dục này!

4. Não trạng Thánh Kinh

Ta sẽ phát giác ra não trạng này trên suốt lộ trình. Tuy nhiên, nên nhấn mạnh ở đây một nét căn bản, làm cho não trạng Thánh Kinh khác hẳn với các não trạng nói trên.

Shema Israel, Adonai hédad! Israel, nghe đây, Thiên Chúa là Chúa duy nhất! Đó là cơ sở lòng tin của dân mà sách Đệ nhị luật 6, 4 đã xác định. Dân Israel biết: Chúa họ đang chất vấn họ và họ đáp lại trong tình yêu mến.

Nếu vẽ phác ra, thì ta có thể vẽ tư tưởng thần thoại bằng một mũi tên đi từ con người phóng sang bên kia một Thần, rồi dùng nghi lễ cố gắng lấy lòng được Thần đó để phù hộ cho mình.

Trong Thánh Kinh, mũi tên đi ngược lại. Chính Thiên Chúa chất vấn con người và con người đáp lại. Nghi lễ ở đây là chính là câu trả đáp đó.

Nghi lễ có thể như nhau, nhưng đã đổi chiều. Chẳng hạn, một em bé đến đưa cho má một bông hoa có ý xin má cho đi xem xinê, rồi cũng em đó dâng hoa cho má nhân dịp lễ các bà mẹ: Cũng một cử chỉ vô thường, muốn nói lên lòng yêu má và lòng biết ơn của mình. Đây là thái độ căn bản của lễ tạ ơn (Eucharistie).

5. Thần thoại

Nhiều lần ta gặp danh từ “thần thoại”. Đó là gì vậy? Thần thoại là câu chuyện tưởng tượng lấy thần thánh làm vai chính, sinh sống và hành động trong một bồng lai tiên cảnh! Thế nhưng nội dung lại phản chiếu những khát vọng của người trần trong cuộc chiến đấu với thiên nhiên. Những đại vấn đề được nêu ra như: vũ trụ, con người bởi đâu mà có? Tại sao có đau khổ và chết chóc? Phái tính, linh tính?

Thay vì trình bày và nghiên cứu những vấn đề đó trên sách vở, thì đây trên “sân khấu” trên “băng vẽ” trong tưởng tượng, trong hoang đường.

Ta đưa ví dụ cụ thể ngày nay: Các cuộc thi hoa hậu, là vì sao? Sống vào thời dân chủ, không còn vua và hoàng hậu nữa, người ta thi chọn người nào đẹp nhất, đội niệm cho và phong làm hoàng hậu hay hoa hậu. Ước muốn tự nhiên của đàn bà là đẹp, giàu có và thành công, còn của đàn ông là được nhìn ngắm người đẹp!

Ta hiểu: Tại sao các tiểu thuyết bằng hình ảnh bán chạy như tôm tươi. Những chuyện thần thoại xưa và nay đều có tính cách nghiêm chỉnh, vì đều là những suy tư hồn nhiên của loài người về số vận, về hạnh phúc, về tương lai của mình. Thánh Kinh ghi nhận, đánh giá và biến đổi chúng. Cảm hứng theo những chuyện thần thoại, đặc biệt trong các trình thuật về cuộc sáng tạo, Thánh Kinh suy nghĩ lại những chuyện dưới ánh sáng niềm tin của mình vào một Thiên Chúa duy nhất, can thiệp vào lịch sử và muốn loài người được tự do.

VI. Ngàn năm lịch sử - Những giai đoạn lớn của Israel

Ngàn năm tức là mười thế kỷ, xét về thời gian là dài, nhưng xét về sự nghiệp kỳ công thì lại vắn.

1. Vương quốc Đavít – Salômôn (1000 – 933)

Khoảng năm 1000, vua Đavít chiếm được Giêrusalem và đặt làm kinh đô cho một vương quốc bao gồm các chi tộc cả miền nam và miền bắc. Salômôn, Thái Tử, lo việc tổ chức. Như thế là có đất, có vua, có Đền Thờ để Thiên Chúa ngự giữa dân mình.

Đây cũng là khởi điểm cho nền văn học. Người ta bắt đầu viết lại những kỷ niệm xa xưa: Việc Xuất Hành hay cuộc giải phóng khỏi Ai Cập, trở nên kinh nghiệm để khám phá ra rằng Thiên Chúa là Đấng giải thoát, là Đấng cứu tinh; người ta biên chép chuyện các Tổ Phụ: Abraham, Isaac… để chứng thực rằng Thiên Chúa đã giữ lời hứa, và lời hứa ấy nay được thể hiện với Đavít. Người ta còn đi lên tới khởi nguyên vũ trụ: Thiên Chúa không chỉ muốn cho một dân tộc được tự do mà muốn cho toàn thể nhân loại.

2. Hai vương quốc: Giuđa và Israel (933 – 587)

Năm 933, vua Salômôn băng hà, vương quốc bỗng nổ tung làm hai: miền nam là vương quốc Giuđa, thủ đô Giêrusalem; miền bắc là vương quốc Israel, thủ đô là Samari.

Nhà Giuđa thì trung thành với triều đại Đavít. Vua giữ vai trò thống nhất đất nước và là khâm sai Thiên Chúa: Thiên Chúa ngự giữa dân mình trong đền thờ. Các truyền tụng bắt đầu dưới thời Đavít – Salômôn sẽ đúc kết thành lịch sử thánh của vương quốc Giuđa. Hai ngôn sứ Isaia và Mika giảng dạy thời đó.

Nhà Israel thì ly khai với triều đại Đavít. Vua không có quan hệ về đạo, chính Ngôn Sứ chịu trách nhiệm tập họp dân và bảo đảm lòng tin của dân khỏi nhiễm lây đạo Baal. Các truyền tụng khởi sự từ triều Đavít – Salômôn hoàn thành một lịch sử thánh của miền bắc. Ba ngôn sứ Êlia, Amos và Ôsê phục vụ ở đây.

Tổng hợp các luật lệ cấu tạo ở miền bắc, lấy lại cho miền nam, kết thành Nhị Luật. Năm 587, Giuđa bị phát lưu sang Babylon.

3. Lưu đầy Babylon (587 – 538)

Một nửa thế kỷ, dân sống lưu đầy, mất mọi sự: Mất đất mất vua, có mất lòng tin của mình vào Thiên Chúa không? Ngôn sứ Êdêkien và một môn đệ Isaia làm sống lại các truyền tụng tổ tiên để tìm ra ý nghĩa mọi khổ đau. Đây là gốc tích cuốn lịch sử thánh của tư tế.

4. Thời đô hộ của Ba Tư (538 – 333)

Năm 538, vua Ba Tư là Syrus ân xá cho người Do Thái được hồi hương: Đoàn người, bị đau khổ lưu đày thanh luyện, sống nghèo nàn.

Trong 5 thế kỷ trước đây, dân đã nhiều lần lấy lại được lịch sử mình, tìm ra trong đó mỗi lần, ý nghĩa và hy vọng. Ba cuốn lịch sử thánh đã soạn trước, cộng với cuốn Nhị Luật, được tư tế kinh sư Esdra tổng hợp lại thành một cuốn duy nhất: Sách Luật Tôra (tức là Ngũ Thư ngày nay).

Mặt khác, suy tư của các Hiền Nhân được ghi chép từ thời Salômôn và trước nữa, dung hợp lại thành những tác phẩm như sách Gióp, Cách Ngôn và sách Tôbia…

5. thời đô hộ của Hy Lạp và Rôma (333 – 63 – 4tcn)

Năm 333 Alexandre Đại Đế chinh phục Trung Đông và truyền bá văn minh Hy Lạp cũng như tiếng Hy Lạp. Năm 167, một vua kế vị Alexandre là Antioko muốn cưỡng bách người Do Thái bỏ đạo hay phải chết. Đây là thời các anh hùng Macabê.

Năm 164, dân chúng được tự do. Suy tư của các tác giả các sách Khải Huyền bành trướng mạnh: Mọi người mong đợi ngày tận thế, ngày Thiên Chúa sẽ can thiệp. Năm 63, đế quốc Rôma đặt chân trên đất Trung Đông. Vua Hêrôđê trị vì từ năm 40 đến năm 4 trước công nguyên. Trong thời này, tại Palestin xuất hiện 3 giáo phái lớn: Sađukê, Pharisiêu (quen gọi là Biệt Phái) và Etsêniên.

(còn tiếp)

ETIENNE CHARPENTIER

Trích “Du lịch Thánh Kinh”, tr. 13-26

-------------------------------------------------------

* Bài liên quan:

Du lịch Thánh Kinh (1)