Du lịch Thánh Kinh (3)
(tiếp theo)
Chương một: Xuất hành
Một dân tộc diễn tả niềm tin của mình
Chúng ta xuống tàu vượt biển sang tham quan Cựu Ước: Chúng ta sẽ rảo qua những chặng đường chính của lịch sử Israel, và nhìn coi dọc suốt lộ trình, họ sống niềm tin của họ như thế nào.
Chương trình tham quan của ta có 5 mục:
1. Đọc và nghiên cứu bản văn Xuất Hành.
2. Tìm hiểu các tài liệu quen gọi là Truyền Thống.
3. Xuất Hành là biến cố sáng lập dân Israel.
4. Xuất Hành: Cái gì đã xảy ra?
5. Xuất Hành: Dĩ vãng và hiện tại
I. Đọc lại Xuất hành (Xh 12,1-13, 16)
Lần một: Đọc suốt, không cần lưu ý đến chú giải hay những chỗ không hiểu, đọc xong thì tự hỏi: Biến cố gì đây? Tường thuật theo kiểu nào? Thử đặt tên cho từng đoạn.
Lần hai: Xem phần chú giải. Các đoạn được chắp nối lại vì được soạn thảo thời kỳ khác nhau (TOB 12, 1; BJ 12, 1 e). Thể văn là cách khác nhau mà kể lại cùng một câu chuyện Dân du mục mừng lễ Vượt Qua, Israel mừng lễ giải phóng (12,25-27) (TOB 12, 11k và 5, 1s; BJ 12, 1 e). Nông dân mừng lễ bánh không men, Israel cũng mừng lễ đó (12, 15) nhưng để ghi nhớ cuộc giải phóng (TOB và BJ). Kitô giáo dùng hai lễ đó để mừng biến cố Phục Sinh, cuộc giải phóng do Đức Kitô đem lại cho nhân loại mới.
Nghiên cứu bản văn: Xh13,17-14, 31. Đọc kỹ bản văn này, ta sẽ khám phá ra cái gọi là Truyền Thống của Ngũ thư.
Đọc lần một: Cứ đọc suốt, ban đầu ta thấy câu chuyện liên tục, rồi sau ta thấy nó kỳ kỳ. Phép lạ ở chỗ nào? Lúc thì gió thổi làm khô biển và người Ai Cập sa lầy giữa đống cát bay? Lúc thì Thiên Chúa xẻ đôi lòng biển cho người Do Thái đi qua, không ướt chân? Lúc thì chính Thiên Chúa giao tranh, lúc thì Môisê được lệnh hành động…
Đọc lần hai: Sở dĩ có những cái kỳ kỳ, là vì, theo các nhà chuyên môn, có tới ba hay ít là hai sử liệu, gọi là Truyền Thống dệt nên bản văn này. Đó là Truyền Thống Giavit và Truyền Thống Tư Tế.
| Truyền Thống Giavit |
| Truyền Thống Tư Tế |
| Xh 13, 17 Khi vua Pharaon để cho đi, thì Đức Chúa không dẫn họ qua xứ Philitinh, dù lối này gần hơn. Đức Chúa phán bảo: “Không nên cho dân thấy phải chiến đấu mà bỏ về Ai Cập”. 18 Vậy Đức Chúa đưa họ vòng ngã sa mạc biển sậy. Con cái Israel được võ trang từ Ai Cập đi lên. 19 Ông Môsê đem hài cốt ông Giuse đi, vì ông Giuse bắt con cái Israel thề: Phải đem hài cốt ông đi theo, khi nào Đức Chúa viếng thăm anh em!
|
| 20 Họ ra đi từ Xucốt, đến cắm trại ở Êtam, ven sa mạc. 21 Đức Chúa đi đàng trước: ban ngày, có cột mây dẫn đường, ban đêm, có cột lửa soi sáng, nên họ có thể đi cả ngày cả đêm. 22 Ban ngày, cột mây đi trước không rời, ban đêm cột lửa cũng vậy. Xh 14 1 Đức Chúa phán với ông Môisê: 2 Hãy bảo con cái Israel quay lại cắm trại, |
| 2b đối diện Pihahirot, ngay đằng trước Baal xêphôn. |
| 3 Bấy giờ Pharaon sẽ nói với con cái Israel: “Chúng đi luẩn quẩn trong vùng. Sa mạc nhốt chúng lại rồi”. 4 Ta sẽ làm cho lòng Pharaon ra chai đá, vua sẽ đuổi bắt dân. Nhưng Ta sẽ được vẻ vang, vì đã đánh bại toàn quân lực nhà vua, và người Ai Cập sẽ biết Ta là Đức Chúa. Con cái Israel đã làm như vậy. |
| 5 Người ta báo cho vua Ai Cập là dân đã trốn đi rồi. Vua Pharaon và bề tôi đổi ý và nói: “Ta làm gì vậy? Ta đã thả dân đi khỏi làm nô lệ ta”. 6 Họ đã thắng chiến xa và đem quân đuổi theo. 7 Vua lấy 700 chiến xa tốt nhất và tất cả chiến xa Ai Cập và các chiến binh.
|
| 8 Đức Chúa khiến lòng vua Ai Cập ra chai đá, mà đuổi theo con cái Israel, đang khi con cái Israel ra đi đắc thắng. |
| 9 Quân Ai Cập đuổi theo họ và bắt được khi họ đóng trại ven bờ biển, gần Pihahirot, trước mặt Baal xêphôn. 10 Vua Pharaon tới gần. Con cái Israel ngước mắt lên, thấy người Ai Cập đuổi theo thì sợ hãi, nói lớn tiếng kêu cầu Đức Chúa. 11 Rồi nói với ông Môisê: “Bên Ai Cập không đủ mồ chôn chúng tôi hay sao, mà lại đưa chúng tôi đến chết trong sa mạc? 12 Chúng tôi đã không nói với ông bên Ai Cập sao? Cứ để chúng tôi làm tôi Ai Cập, thà là làm tôi Ai Cập hơn là chết trong sa mạc”. 13 Ông Môsê nói với dân: “Đừng sợ, cứ yên tâm. Rồi anh em sẽ thấy việc Đức Chúa làm để cứu anh em. Anh em thấy người Ai Cập hôm nay, anh em sẽ không thấy lại bao giờ nữa. 14 Chính Đức Chúa sẽ chiến đấu cho anh em, anh em chỉ có việc ngồi im lặng”. |
| 15 Đức Chúa phán với ông Môsê: “Có gì mà phải kêu đến Ta? Cứ bảo con cái Israel nhổ trại đi. 16 Còn ngươi, cầm gậy giơ trên mặt biển, rẽ nước ra, cho con cái Israel có lối khô đi giữa lòng biển. 17 Phần Ta, Ta sẽ làm cho lòng người Ai Cập ra chai đá, để họ tiến theo sau, và Ta sẽ thắng hiển hách, vì đã đánh bại Pharaon cùng toàn quân, chiến xa và kỵ mã của vua ấy. 18 Như thế, người Ai Cập sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa”. |
| 19 Sứ thần Đức Chúa đi trước hàng ngũ Israel thì lùi lại mà đi đàng sau. Cột mây cũng bỏ đi phía trước mà về phía sau, 20 chen giữa hàng ngũ Ai Cập và hàng ngũ Israel. Bên kia mây tỏa mịt mù, bên này mây lại soi sáng đêm tối, khiến hai bên suốt đêm không thể sát lại gần nhau được. |
| 21 Ông Môsê giơ tay trên mặt biển, |
| 21b Đức Chúa khiến một cơn gió thổi mạnh suốt đêm, khiến biển hóa thành khô cạn, |
| 21c nước rẽ ra, 22 và con cái Israel đi vào giữa lòng biển ráo chân, nước sừng sững như tường hai bên. 23 Quân Ai Cập đuổi theo: Toàn thể chiến mã, chiến xa, kỵ binh vua pharaon tiến vào giữa lòng biển, đàng sau dân Israel. |
| 24 Vào lúc gần sáng, từ cột lửa và mây, Đức Chúa nhìn xuống hàng ngũ Ai Cập, Người gây rối loạn trong hàng ngũ chúng. 25 Người làm cho chiến xa kẹt bánh, khiến chúng phải vất vả mới di chuyển nổi. Quân Ai Cập bảo nhau: “Ta phải trốn bọn Ai Cập, vì Đức Chúa chiến đấu cho họ. |
| 26 Đức Chúa phán với ông Môsê: “Hãy giơ tay trên mặt biển, nước sẽ ập xuống trên quân Ai Cập với chiến xa và kỵ binh chúng”. 27 Ông Môsê giơ tay trên mặt biển, |
| 27b vào tảng sáng, biển ập lại như cũ. Quân Ai Cập đang chạy trốn thì gặp nước biển, Đức Chúa xô ngã chúng giữa lòng biển. |
| 28 nước ập xuống, vùi chiến xa, kỵ binh, toàn quân vua pharaon xuống lòng biển. Không một tên nào sống sót. 29 Con cái Israel thì đi giữa lòng biển khô chân, nước sừng sững như tường thành tả hữu. |
| 30 Ngày đó Đức Chúa cứu Israel khỏi tay Ai Cập, và Israel thấy thây quân Ai Cập rạt vào bờ biển. 31 Israel thấy Đức Chúa ra tay hùng mạnh giáng trên Ai Cập. Toàn dân kính sợ Thiên Chúa, tin vào Đức Chúa và Môisê, tôi trung của Người. |
|
|
II. Các truyền thống trong Ngũ Thư
Qua việc nghiên cứu bản văn Xuất Hành trên, ta biết Ngũ Thư hay Ngũ Kinh, tức là năm cuốn sách đầu tiên của bộ Thánh Kinh, gọi chung là Sách Luật (Tôrah) là một tổng hợp sử liệu của bốn Truyền Thống, ghi chép vào nhiều thời đại khác nhau, do Tư Tế Kinh Sư Esdra thực hiện vào thế kỷ 5 trước Công nguyên.
1. Truyền Thống Giavit (Ký hiệu J)
Gọi là Giavit, vì Truyền Thống gọi Thiên Chúa là Giavê (Yahve, Jahve). Tác giả Giavit phải là nhà thần học số một của Israel. Tác phẩm của ông vào thời vua Salômôn, khoảng năm 950, giữa triều đình Giêrusalem. Vua giữ vai trò quan trọng: Biểu tượng thống nhất sơn hà! Thống nhất niềm tin!
Lịch sử thánh của Giuđa hay của vương quốc Giuđa, chính là tên tác phẩm. Những nét độc đáo của Giavit là: tài kể truyện, kể truyện sống động, đầy hình ảnh… một Thiên Chúa khác hẳn! Sáng Thế Ký 11 chương đầu một nửa là tác phẩm Giavit.
2. Truyền Thống Elohit (Ký hiệu E)
Gọi là Elohit, vì Truyền Thống này gọi Thiên Chúa là Elohim. Truyền Thống này xuất phát tại miền bắc, trong vương quốc Israel, vào khoảng năm 750, tức là 2 thế kỷ sau Giavit.
Lịch sử thánh miền bắc là tác phẩm của Truyền Thống này. Nghệ thuật Truyền Thống này kém sống động, kém cụ thể sánh với Giavit. Các vấn đề luân lý, đạo đức được chú trọng hơn cả. Tôn thờ Thiên Chúa thì tuân phục và tôn trọng Giao Ước.
Sáng Thế từ 12-50 là tác phẩm êlohit và Tư Tế.
3. Truyền Thống Tư Tế (Ký hiệu P)
Truyền Thống này sinh ra giữa cảnh lưu đầy Babylon (587-538): Mất đất, mất vua, mất đền thờ, mất tất cả trừ lòng tin, nếu không được các Tư Tế hâm nóng lại, cũng mất luôn! Lịch sử thánh Tư Tế nhóm lên từ đây.
Văn Tư Tế khô khan. Ngữ vựng thường là chuyên môn. Phụng tự là nhất. Luật pháp thường xen giữa trình thuật, các biến cố. Văn Tư Tế dễ nhận diện nhất: trong 11 chương đầu Sáng Thế, thì một nửa là truyền thống Tư Tế!
4. Truyền Thống Nhị Luật (Ký hiệu D)
Nhị Luật hay Đệ Nhị Luật là Sách Luật thứ hai: (D) Deutéronome. Hành văn rất cảm tình: Tác giả muốn thuyết phục hơn là giảng dạy. Toàn là những lời khuyên thắm thiết: 'Hỡi Israel, hãy nghe đây, Thiên Chúa ngươi là Thiên Chúa duy nhất, hãy yêu mến Người hết lòng…' (6,4-5).
Khởi xướng tại miền Bắc, hoàn thành tại miền Nam, tại Giêrusalem năm 622. Đây cũng là cách đọc lại lịch sử trong bối cảnh bi đát: Năm 721 ngai vàng miền Bắc sụp đổ, năm 587 đến lượt miền Nam ngã quỵ. Phải viết lại lịch sử, đúng hơn phải sống thế nào, cho lịch sử đi một hướng khác.
(còn tiếp)
ETIENNE CHARPENTIER
“Du lịch Thánh Kinh”, tr. 26-32.
* Bài liên quan:
.jpg)