Du lịch Thánh Kinh (5)

5 /5
1 người đã bình chọn
Đã xem:  | Cật nhập lần cuối:2015-04-12 11:17:16  | RSS

(tiếp theo)

Chương hai: Vương quốc Giêrusalem

Nếu chặng dừng một của chúng ta là Ai Cập, để tham quan cuộc Xuất Hành, thì chặng dừng hai là Giêrusalem, nơi đây ta hành hương Thánh Địa. Mở Thánh Vịnh 121 (Hr 122), chúng ta đọc:

“Và giờ đây, Giêrusalem hỡi,

Cửa nội thành, Ta đã dừng chân”.

Vui dường bao, Thiên hạ bảo tôi:

Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa!

Rồi chúng ta mở sử ra cùng đọc: Khoảng năm 1000 trước Công Nguyên, Đavít lên làm vua, đặt kinh đô ở Giêrusalem. Đây là một khởi điểm mới cho dân Israel. Diễn tiến thế nào?

I. Từ Xuất Hành đến Đavít

Khoảng năm 1200, nhóm người bỏ Ai Cập ra đi dưới sự hướng dẫn của ông Môsê rồi của ông Giosuê, tới Canaan và định cư tại đó. Nhiều bộ lạc đã đến đây từ lâu, sống quây quần những thành nhỏ nhưng kiên cố trên các đỉnh đồi. Họ sống nghề nông, buôn bán và đánh nhau.

Bằng sức mạnh hay bằng thủ đoạn, đôi khi cũng bằng giao ước, nhóm người Hípri len lỏi vào lập nghiệp ngay giữa xứ. Sau này sách Giosuê sẽ tường thuật việc này như một anh hùng ca kỳ diệu, mục đích trước mắt là để lại một giáo huấn: Người Hípri đã chinh phục được xứ sở, nhưng Thiên Chúa đã giúp họ thành công: Đó là ân huệ hay hồng ân chiến thắng!

Trong một đại hội tại Sikhem, một sợi dây tôn giáo đã thắt chặt các bộ lạc khác nhau lại, đưa vào giao ước với Thiên Chúa (Gs 24).

Vào thời gọi là thời các Thẩm Phán (giữa năm 1200 và 1000), các bộ lạc liên minh với Giavê – tất cả là 12 – được phân ra làm ba nhóm: Tọa lạc trên 3 miền: Miền Galilê, miền Samari và miền nam Giêrusalem. Sợi dây liên lạc rất mong manh, chỉ có tính cách tôn giáo thôi. Tuy nhiên, khi có loạn biến đe dọa bộ lạc này bộ lạc kia, thì một anh hùng (hay một thẩm phán) đứng lên, tập họp dân dàn trận, sau chiến thắng ai nấy trở về nhà yên vui.

Thế nhưng, áp lực của dân Ammônít miền trung, nhất là của dân Philitin miền nam, háo chiến và nghiện ngập, khiến các bộ lạc khác nhau nhận thức rằng cần phải có một chính quyền trung ương mạnh. Các bộ lạc miền nam với vua Saulê.

Về phương diện tôn giáo, người canaan thờ một thần gọi là El, nhưng thật ra họ thờ thần thiên nhiên: Thần Baal, thần sấm sét, bão bùng… và thần Astartê, thần ái tình, sinh đẻ. Người Hípri thì tôn thờ Đức Chúa Giavê, nhưng rất thường bị cám dỗ ngả theo các thần dục tính của người Canaan sống trên vùng cao nguyên.

II. Đavít

Lợi dụng tình trạng ba “cường quốc” suy yếu: Híttít (thực sự đã mất tích), Ai Cập và Assyrie, và dựa trên uy tín mình, Đavít đã thành công là các bộ lạc lần lượt tôn mình làm vua, miền nam trước, miền bắc sau. Ông chiếm thị trấn Giêbusê, nằm giữa hai nhóm bộ lạc, và đặt làm kinh đô: Giêrusalem, tạo cho Israel một bối cảnh hoàn toàn mới.

1. Về phương diện chính trị

Israel đã có vua như các nước khác. Điều này có gây thắc mắc cho một số người: Giavê Thiên Chúa không là Vua duy nhất sao?

Natan, Ngôn Sứ, vẫn giữ địa vị chủ chốt. Trong nghi lễ phong vương tại Babylon, tại Ai Cập, chủ tế đọc trên vua lời sấm của Quốc Thần: “Con là con Ta, Ta là Cha con”. Qua trung gian của Natan, Thiên Chúa tuyên bố thừa nhận nghi lễ ấy: Ngày phong vương, con vua Đavít – như một người kế vị hợp pháp – trở thành con Thiên Chúa (Thiên tử!).

Ta hiểu rằng vua là khâm sai của Thiên Chúa, giữ vai trò chủ yếu: Chịu trách nhiệm về tiền đồ dân tộc trước mặt Thiên Chúa, là biểu tượng thống nhất về chính trị và về tôn giáo.

2. Về phương diện tôn giáo

Vua Đavít đã làm một việc có âm vang chính trị, đó là quyết định rước khám Giao Ước về đặt ở thủ đô. Khám này từ thời Xuất Hành vốn là khám tại Giêrusalem, nhà vua muốn gắn sự hiện diện của Thiên Chúa vào ngai vàng của mình. Không lạ gì, nếu nhiều tín đồ phản đối, vì phải chăng Thiên Chúa bị “nhốt” vào một nơi? Vua và dân có thể “đặt tay trên”? Hay là Thiên Chúa vẫn tự do, một Thiên Chúa hướng dẫn dân mình, một Thiên Chúa đi đâu tùy ý, một Thiên Chúa luôn luôn hiện diện và hành động cách vô hình, không thể đoán trước được (đó là ý nghĩa lộ trình của khám Giao Ước kể trong 1 Sm 5-6). Và chính Thiên Chúa, qua miệng Ngôn Sứ Natan, đã từ chối không cho vua Đavít xây đền thờ (2 Sm 7).

Có hai cách quan niệm về Thiên Chúa, ta thường gặp trong cả bộ Kinh Thánh (x. Cv 7, 48), vẫn còn thời sự ngày nay…

3. Về phương diện hành chánh

Vua Đavít bắt đầu tổ chức quốc gia: Nhiều cơ quan, nhiều chức vụ được thiết lập, như bộ quốc phòng, bộ thông tin, các tư tế, các văn phòng… (2 Sm 8, 6-18). Ông ra lệnh kiểm tra dân số nữa (2 Sm 24).

4. Về phương diện ngoại giao

Hành động của ông mang theo hậu quả tôn giáo. Sau mỗi lần chiến thắng, ông nhập tịch một số bộ lạc vào vương quốc; nhiều vương quốc khác triều cống cho ông, những nước chư hầu này có thể thụ hưởng Giao Ước với Thiên Chúa. Các kinh sư biên chép lịch sử sẽ chứng tỏ rằng tính cách đại đồng đó đã được loan báo nơi thân thế của Tổ Phụ Abraham.

III. Salômôn

Vua Salômôn thừa hưởng gia tài của vương phụ. Thông minh vốn sẵn tính trời (1 V 3), vua thực có tài cai trị, lợi dụng thời bình để tổ chức quốc gia. Hành chánh phát triển mạnh (1 V 4-5): Cả nước được chia ra làm 12 khu vực, có trách nhiệm cung cấp lương thực hàng tháng, nhân công cho những đại sự… Nhiều hí trường được xây dựng ở Mêghiđô và nhiều nơi khác. Một hạm đội hải quân thống giữ Địa Trung Hải. Các hàng hóa từ cuộc doanh thương với Ai Cập, Syrie tuôn đổ về Giêrusalem, tại đây nhà vua đang lo xây cất đền thờ vĩ đại cho Thiên Chúa của mình, và cả một cung điện nguy nga cho ông. Ông thực là bậc minh quân! Nhưng…

Cuối đời ông, có những đám mây mù. Ông sống như một lãnh Chúa, hoang dâm vô độ. Sách chép: Ông có tới 700 thiếp, 300 nàng hầu… Có lẽ nhiều quá chăng! Thực ra có nhiều vợ, một trong đó là công chúa Pharaon, mỗi bà đem thần mình về: Hiểm họa ngẫu tượng là lớn. Nhà vua lại khai thác dân và nếu nổi loạn ông dẹp được khi còn sống, thì khi ông chết, nó nổ tung. Con ông, chính trị đã ngu đần, lại làm cớ cho việc phân chia vương quốc ra làm hai: Các bộ lạc miền bắc tách lìa. Vương quốc thống nhất, hưởng thọ 70 tuổi.

IV. Hai vương quốc

Kể từ năm 933, rõ rệt có hai vương quốc:

- Vương quốc miền nam cũng gọi là vương quốc Giuđa, kinh đô là Giêrusalem. Các vua trong vương quốc này đều thuộc dòng dõi Đavít, được thừa hưởng lời hứa ngôn sứ Natan chuyển cho: Thánh nhân hay tội lỗi, đều là con cái Thiên Chúa (Thiên tử).

- Vương quốc miền bắc hay vương quốc Israel, thủ đô là Samari. Các vua không thuộc dòng dõi Đavít (8, 19 vua bị ám sát!). Trong vương quốc này, không phải nhà vua là người chịu trách nhiệm về số phận dân trước mặt Thiên Chúa.

V. Khởi đầu cho một nền văn học

Vì là thời bình, vua Salômôn tổ chức triều đình theo kiểu Ai Cập, đặc biệt với các kinh sư văn sĩ. Các ông bắt đầu ghi chép các sử liệu, các truyền tụng. Thánh Kinh nhắc lại 2 quyển sách đã lạc mất: “Sách người công chính” và “Sách chiến tranh của Giavê”. Chắc hẳn các ông đã viết lịch sử khám Giao Ước (1 Sm 9-20). Các ông cũng thu thập các bản thi thiên: Bài ca cái cung và bài điếu văn Abner của Đavít (2 Sm 1 và 3), có lẽ cả một số Thánh Vịnh và một số tục ngữ sau thành sách Cách Ngôn.

Nhất là, các ông biên soạn lịch sử thánh vương quốc Giuđa, sau này ta gọi là Truyền Thống Giavít. Ta thử đọc bây giờ.

VI. Lịch sử thánh Giavít

Vua Salômôn tổ chức triều đình theo hình ảnh triều đình Pharaon, trong đó các kinh sư chiếm địa vị quan trọng nhất. Các ông được huấn luyện làm văn sĩ, các ông lại thông minh rất mực, sống đời trượng phu quân tử, đáng bậc mô phạm.

Lịch sử thánh Giuđa (hay của vương quốc Giuđa) là kiệt tác của các ông. Gọi đó là truyền tụng (hay là tài liệu, hay là Truyền Thống) Giavít, bởi vì Đức Chúa có danh hiệu là Giavê. Để đơn sơ vắn tắt, ta gọi “Giavít” là tác giả Truyền Thống này: Có thể là một kinh sư hay một nhóm kinh sư. Ký hiệu là J (Jahvit).

Khởi sự chắc chắn thời vua Salômôn, Truyền Thống này sẽ được tiếp tục dưới thời những kế vị ban đầu trong vương quốc Giuđa. Vua gọi là con Đavít, con Thiên Chúa, là biểu tượng thống nhất chính trị và tôn giáo của quốc gia. Giavít phục vụ cho vương quốc và chứng tỏ thực hiện lời Giavê đã hứa với các Tổ Phụ, đây cũng là một văn kiện chính trị, ủng hộ vương quốc. Nhưng “Giavít” dám phê bình vương quốc và kêu gọi trở về trật tự: Vua không là quân chủ chuyên chế, vua để phục vụ Thiên Chúa, phục vụ dân và các dân.

Chúng tôi đề nghị đọc một bản văn chính (bản văn chìa khóa): (St 12,1-3).

1 Đức Chúa phán với ông Abram: “Hãy rời bỏ xứ, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho.

2 Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi, danh ngươi sẽ lẫy lừng, ngươi sẽ là mối phúc lành.

3 Ta sẽ chúc phúc ai chúc phúc ngươi, ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.

Đọc xong, ta hỏi: Những nhân vật nào vậy? Từ gì đáng lưu ý? Chữ dân có nghĩa gì? Đọc thêm St 12,6-9: Lời hứa mới cho Abraham là lời nào (c.7)?

VII. Vài nét đậm của Giavít

- Duyên kể chuyện: sinh động, cụ thể, đầy hình ảnh, tả chân: Giavê được mô tả lần lượt như người làm vườn, thợ gốm, thủ thuật, thợ may! Đó là kiểu cách nói về Thiên Chúa và về con người, chứa đựng nhiều chất thần học.

- Một Thiên Chúa rất người: Dạo mát với Ađam (St 2), để cho Abraham mời ăn sáng, và mặc cả với ông (St 18).

- Một Thiên Chúa khác hẳn: là chủ là Chúa, truyền lệnh hay cấm (St 3, 16) Hãy rời bỏ, Hãy đi: Ngài nói như thế với Abraham, với Môsê; Ngài có kế hoạch về lịch sử: Lời Ngài chúc lành khiến dân Ngài được hạnh phúc, lời chúc phúc ấy phải trải rộng ra cho muôn dân (Thực là kỳ diệu thấy tính cách đại đồng có ngay thời đó).

- Tội loài người là tự phong mình làm Chúa. Tội đã kéo lôi sự nguyền rủa đến cho mình: Cain, hồng thủy, tháp Babel…

Một Thiên Chúa luôn sẵn sàng tha thứ, nhất là theo lời cầu của những kẻ xin như Abraham (St 18), như Môisê (Xh 32,11-14).

(còn tiếp)

ETIENNE CHARPENTIER

Trích “Du lịch Thánh Kinh”, Tr. 42-48

---------------------------------------

* Bài liên quan:

Du lịch Thánh Kinh (1)

Du lịch Thánh Kinh (2)

Du lịch Thánh Kinh (3)

Du lịch Thánh Kinh (4)