Du lịch Thánh Kinh (6)

5 /5
1 người đã bình chọn
Đã xem:  | Cật nhập lần cuối:2015-04-16 08:59:38  | RSS

(tiếp theo)

8. Đọc vài chương Sáng Thế

1. Chu kỳ các nguồn gốc

J

P

Bảng kề bên cho cách thấy phân chia có lẽ đúng các yêu cầu của

chương 1-11 giữa Giavít (J),

Chương

Các nguồn gốc

và Tư Tế (P)

1

1-31

Các chương này không thuộc

2

1-4a

lịch sử chung nhưng thuộc thần học

4b-25

diễn tả bằng hình ảnh:

3

1-21

một suy tư của hiền nhân.

4

1-26

Tác giả cố trả lời những

5

1-28

câu hỏi lớn, thiên hạ đặt

29

ra cho mình sống, chết,

Hồng thủy

tình yêu, nguồn gốc.

6

1-8

9-22

Tác giả đã làm theo đức tin của mình,

7

1-5

6

theo kiểu thần thoại.

7

8-9

Trình thuật bắt đầu trong

10

11

lạc quan rồi rất lẹ

12

13-16a

lịch sử chuyển sang sự dữ lộng hành.

16

17a

5 lần xảy ra lời chúc

17b

18-21

dữ (3, 4 ,17; 4, 11; 5, 29; 9, 5)

22-23

24

Mỗi lần, Thiên Chúa

8

1-2a

đều tha và hứa cứu độ,

2b-3a

3b-5

trừ lần cuối cùng.

6-12

13a

Câu chuyện tháp Babel nói lên

13b

14-19

tình cảnh ta đang sống

20-22

trong thế giới đổ vỡ,

9

1-17

người ta không hiểu nhau nữa.

Lịch sử của ta đáng bị nguyền rủa chăng?

Làm sao chuyện Abraham có thể là

Từ Noe đến Abraham

câu trả đáp? Lưu ý những

18-27

28-29

đảo lộn từ 11, 4 đến 12, 2

10

1a

và 5 lời chúc phúc.

8-19

20

2. Chu kỳ Abraham

21

22-23

Đây vẫn chưa thuộc lịch sử

24-30

31-32

còn là truyền tụng dựa trên gốc lịch sử,

11

1-9

10-27a

cắt nghĩa theo tôn giáo, nhằm đưa ra

27b-30

31-32

một giáo huấn.

Abraham được coi như quản thủ các phúc lành của Thiên Chúa cho muôn dân. Ông xử sự thế nào?

- St 12,10-20 ?

- St 18,16-33 ? Lưu ý c.17-18

- St 22,15-18 ?

Nếu muốn, thì đọc thêm Tân Ước trong chiều hướng Abraham: Ga 3, 8; Dt 11, 8s.

3. Chu kỳ Giacóp

Vẫn cùng thể văn với Abraham. Những truyền tụng về hai chi tộc khác nhau: Giacóp và Israel hòa lẫn nhau và người ta trở thành cháu nội của Abraham.

Đọc St 28,13-16. Tại sao Thiên Chúa hứa với Giacóp và hứa gì? St 32,23-33. Vụ Giacóp vật lộn với Thiên Chúa (x. Tob hay BJ chú thích).

4. Chu kỳ Môisê

Môisê là nhân vật chủ chốt trong Cựu Ước, khuôn mặt tuy có biến đổi theo từng truyền tụng. Theo Giavít, ông có mặt khắp nơi, từ Xuất Hành đến lúc vào xứ Canaan. Nhưng Thiên Chúa mới là thủ lãnh đích thực của dân, là Đấng giải phóng duy nhất. Môisê không làm một dấu lạ nào, không lãnh đạo chiến đấu, không lập đạo: ông chỉ là người chăn, Thiên Chúa dùng để tỏ cho mọi người biết ý muốn của Ngài.

Thiên Chúa gọi Môisê (Xh 3,1-8).

Xem phản ứng của Pharaon trong Xh 8, 4; 10, 17; 12,31-32 (Tob chú giải). So sánh vai trò bầu cử của ông với Abraham (St 18). Cả cho kẻ thù độc ác nhất của mình, dân Thiên Chúa cũng phải tha thứ và chúc lành!

5. Chu kỳ Balaam

Israel thấy mình thành đối phương với dân Môáp. Vua Môáp cho vời thầy bói Balaam đến chúc dữ cho Israel. Balaam đã làm gì ( Ds 24, 1)? Đọc cả chương, đặc biệt c.7 và c.17.

Người ta đã hiểu thế nào, thời Chúa Kitô, về câu 17 đó

Bản Hípri

Targum

(nguyên văn)

(cắt nghĩa rộng)

Một vì sao xuất hiện từ Giacóp trở nên thủ lãnh một phủ người việt giơ lên từ phía Israel.

Một vì vua sẽ chỗi dậy từ nhà Giacóp và một vị cứu tinh (mêsia) từ nhà Israel.

Kiểu cắt nghĩa này có giúp bạn hiểu Mt 2, 1s không?

Vì sao ấy đối với Matthêu là ai đó?

6. Chúc lành

Tiếng La Tinh là Bene-dicere, nghĩa là nói sự tốt lành. Khi Thiên Chúa nói sự tốt lành cho ai, thì sự tốt lành tới. Vì lời Thiên Chúa là toàn năng: Nói là làm!

7. Chúc dữ

Ngược lại, là nói sự dữ Male-dicere, là chúc dữ, là rủa. Các sự tốt lành mà Thiên Chúa nói hay làm có thể thuộc phạm vi “Có” (của cải, sinh nở…), nhưng nhất là thuộc phạm vi hữu thể “Là”: Sự sống Thiên Chúa ban.

8. Các Tổ Phụ

Khi ai muốn lập gia phả của mình, thì phải đi từ mình lên tổ tiên. Cái hướng dẫn duy nhất. Nhưng đôi khi có những sợi giây bạn hữu, đồng liêu, còn mạnh hơn cả họ máu. Một người bạn trở nên “người anh em”. Hiện nay, nơi nhiều bộ lạc, một khi ký giao hảo với nhau, là để mọi sự làm của chung: Tập tục và tổ tiên.

Đó cũng là điều dân Israel làm đối với các Tổ Phụ của họ. Khoảng thế kỷ 18 hay 17 trước công nguyên, nhiều bộ lạc đã tới định cư ở Canaan: Con cháu Giacóp, Isaac, Israel, Abraham… Họ thừa nhận thần của địa phương, họ ký giao ước với địa phương: Trở nên anh em với nhau: Chính vì thế mà Abraham là bố của Israel và là ông của Giacóp cũng là Israel.

Giả thuyết này, các nhà chuyên môn đưa ra, không có gì là khó nghe khó chịu. Nó cho ta bài học khôn ngoan khi muốn dựng lại lịch sử các Tổ Phụ. Nhưng đó không là điều chủ yếu.

Điều chủ yếu là ý nghĩa tôn giáo mà dân Israel cảm thấy trong lịch sử này. Giavít khám phá ra một lời hứa chúc lành mà vua, cũng là con của Đavít thừa hưởng. Êlôhít tỏ cho người đồng thời bị dụ dỗ bỏ Giavê theo tà thần Canaan biết tổ tiên họ là Abraham là Giacóp, gương mẫu trung thành với Thiên Chúa. Tư Tế không còn hy vọng gì được nữa. Chỉ còn hy vọng duy nhất là lời hứa với Abraham tổ phụ: Rằng dù tội lỗi đã phạm, một ngày nào đó, Thiên Chúa sẽ cứu!

Thánh phaolô nhìn nhận Abraham là mẫu mực đức tin: người ta nên công chính không nhờ việc làm mà nhờ lòng tín thác. Thư Do Thái mời ra đi như tổ phụ Abraham, không cần biết đi đâu…

Còn chúng ta khám phá được gì nơi tổ phụ Abraham để hôm nay sống thành tín cùng Thiên Chúa…?

9. Trình Thuật về cuộc Sáng Tạo. St 2, 4 – 3, 24

Ta đọc chăm chú bản văn này: Ghi những phản ứng, những vấn nạn. – Có mấy phần? Mỗi phần nói gì? Cây hằng sống là gì? Cây biết lành biết dữ là gì?

1. Một suy tư của các hiền nhân

Trình thuật thuộc loại thể văn nào? Rõ ràng không là một phóng sự trực tiếp, cũng không phải là một bài dạy về lịch sử hay về địa dư. Đó chỉ là suy tư của các hiền nhân về các vấn đề lớn của loài người, đau khổ, chết? Tại sao phái tính có sức hút kỳ lạ? quan hệ giữa người với Thiên Chúa? Với vạn vật? Với tha nhân…?

Để có câu đáp, soạn giả dựa trên sự hiểu biết của bản thân cũng như của các bậc hiền nhân, đặc biệt dựa trên lòng tin của mình: Thời Xuất Hành, đi vào Đất Hứa, họ đã khám phá ra một bộ mặt nào của Thiên Chúa của họ. Chính dựa vào gì họ biết về Thiên Chúa của họ mà họ thử trả lời.

Chúng ta lấy lại nhiều vấn đề, đặt chúng vào bối cảnh tư tưởng thời đó.

2. Ađam và Evà

Có người bảo: Ađam và Evà không bao giờ có! Nói thế là không hiểu câu đó thuộc thể văn nào? Nhân loại nhất định đã bắt đầu “Có” một ngày nào rồi. Có với ai? Tại đâu? Bằng cách nào? Điều đó khoa học có trách nhiệm trả lời chứ không phải Thánh Kinh. Và một cặp hay nhiều cặp vợ chồng tiên khởi mà khoa học sẽ cho cho ta biết (hiện nay thì chưa), còn Thánh Kinh gọi một hay nhiều cặp vợ chồng ấy là Ađam-Evà, vì tiếng Hípri Ađam là ông người và Evà là bà sống! Ađam-Evà biểu tượng cho những người tiên khởi, cho bất cứ người nào, cho tất cả mọi người. Thế thôi.

3. Quả địa cầu thành hình

Ý tưởng khoa học nào, của thời ấy, ẩn trong chuyện này không? Khoa học của St 1 thì khác hẳn. Chắc đây là kinh nghiệm của người du mục sống giữa sa mạc, gặp được vũng nước thì coi đó là địa đàng!

4. Tạo dựng con người

Những yếu tố đã dựng nên chuyện này? Cứ đọc bài thơ sau đây của Babylon, ta sẽ thấy đôi bên khác nhau: Babylon bi quan, Thánh Kinh lạc quan. Bản văn này không chống đối gì thuyết tiến hóa. Nó cho một ý nghĩa tôn giáo vào việc tạo dựng con người thôi. Ý nghĩa nào?

5. Anh hùng ca Atra Hasis (1600 trước công nguyên)

Khi các thần giáng kiếp làm người,

Phải lao động khổ sai cực nhọc…

Nổi loạn lên, các thần Ta ơi!

Giết đi một, máu hòa bùn đất:

Dựng nên người, lao khổ thay Ta!

Đó là lệnh, mẫu thần Nintou.

6. Con người và vạn vật

Vai trò nào của con người trước vạn vật thiên nhiên (2, 15)? Đặc biệt đối với loài vật (2, 19; đặt tên, là tác thành)? Đó không là tán dương khoa học sao?

7. Dựng nên đàn bà

Tại sao đàn bà được dựng nên? Làm thế nào để diễn tả ý tưởng đàn ông đàn bà cùng một bản tính, nhưng khác với loài vật?

“Ở bên nhau” hay “xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi” là chỉ sự bình đẳng. Có lẽ muốn chơi chữ chăng? Vì tiếng Sumer, chữ xương và chữ thịt viết như nhau!

8. Giấc ngủ tê mê

Tob 2, 2ir chú giải là một siêu kinh nghiệm, một cuộc xuất thần, một giấc mơ thần tiên. Có lẽ, theo một thần thoại cổ, đàn ông chỉ là đàn ông trong quan hệ yêu thương đàn bà!

9. Anh hùng ca Gilgamesh

Gilgmesh là anh hùng thành Ourouk. Để hãn ngữ thế lực của chàng, các thần dựng nên Enkidou, một quái thai sống với dã thú. Ngày kia, một nữ thần đến ăn ở với Enkidou. Enkidou trở về, các dã thú chạy trốn, chàng đuổi theo, nhưng kiệt sức, chàng trở thành người!

Enkidou kiệt sức

Rã rời cả chân tay,

Không thể chạy theo kịp,

Nhưng người lại phơi phới,

Ngồi sụp dưới chân nàng,

Nhìn, hiểu lời nàng nói!

10. Con rắn

Trong thần thoại, rắn có nhiều vai trò. Bên Ai Cập, rắn chống lại thần mặt trời suốt đêm, không cho mọc lại. Tại Canaan, rắn là biểu tượng tính dục. Theo anh hùng ca Gilgamesh, rắn đã ăn trộm cây trường sinh! Đó là lý do chọn con rắn. Nhưng chú ý bản văn muốn dạy: Tội không đến từ bên trong con người: “Nhân chi sơ tính bản thiện”! Tội đến từ bên ngoài. Vì thế, con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình (so sánh bản văn Babylon dưới đây:)

11. Thần luận Babylon (năm thứ 2 ngàn)

Vua các vua, sáng tạo muôn loài,

Thần ÊA, nhào trộn bùn đất,

Nặn hình người, thổi cho sinh xấu,

Chỉ nói dối, không biết nói thật.

12. Cây biết lành biết dữ

Cây và quả là những biểu tượng! Và quả ở đây chắc không là quả táo! Ta nói ta hưởng hoa quả công khó nhọc của ta. Cây biểu tượng là gì?

Xưa nay ta giải thích sai: Thiên Chúa cho đất để con người canh tác, cho loài vật để con người đặt tên, đó là khoa học con người phải dựng nên.

Đọc kỹ bản văn, ta thấy cây ấy luôn đi theo những câu nói: Ngươi sẽ nên như những vị thần biết điều thiện ác (3, 5); cây ấy đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn (3, 6); xem 3, 22 nữa.

Có giờ, ta nên đọc Êdêkien 28: cũng những hình ảnh đó (xem Tob): Tội nhà vua xứ Tyr là tội nói tôi là thần vì nhà vua học được sự khôn ngoan.

Tội cấm con người là không được từ chối là người, muốn làm Chúa cơ! Chỉ có Thiên Chúa là Đấng Khôn Ngoan, biết nguồn gốc sự lành sự dữ. Không ai ăn trộm được sự khôn ngoan ấy, nhưng Thiên Chúa ban cho kẻ tôn kính Ngài, kính sợ Ngài (x. Cn 3, 18).

Sự khôn ngoan Ađam tưởng ăn cắp được, thì đã để ông trần truồng: Ông mới biết rằng ông chỉ là người, ông có họ với con rắn: Trần truồng và quỷ quyệt, chữ Hípri viết giống nhau.

13. Đau khổ và chết

Trước khi phạm tội, con người có phải đau khổ và chết không? Câu hỏi đặt sai. Tác giả nhìn cách sáng suốt vào con người thời mình: Tác giả biết có đau khổ và chết, nên tìm ý nghĩa. Ông vấp phải sự khôn ngoan của Thiên Chúa mà con người không thể biết được. Muốn ăn cắp sự khôn ngoan đó, là lại thấy mình trần truồng, trơ trụi trong số phận khốn khổ của mình. Như thế ta thấy có sợi dây giữa đau khổ và tội. Trước khi phạm tội, Ađam đau khổ và sẽ chết, nhưng ông sống thân phận ấy trong niềm tin tưởng vào Thiên Chúa, không lo sợ chi. (Chúng ta sẽ trở lại chữ “trước khi”).

14. Tội Tổ Tông

Cái người Kitô giáo gọi là “Tội Tổ Tông” không thấy có trong trình thuật của Sáng Thế, chỉ thấy trong thư thánh Phaolô gửi Rôma (Rm 5).

Tội trong Sáng Thế. Nếu Ađam là người, mọi người, thì tội Ađam cũng là tội mọi người. Theo nghĩa đó, mọi tội lỗi chúng ta phạm đều đi vào trong tội của Ađam, làm cho nó to lên, phát phì ra!

Đối với thánh Phaolô, sở dĩ có tội Tổ Tông, là vì đó là hậu quả của một chân lý quan trọng hơn: chúng ta tất cả đã được cứu độ trong Đức Kitô, tất cả, chúng ta cần được như thế, người Do Thái cũng như dân ngoại (Rm 1-3). Đàng khác, vì Ađam biểu tượng cho mọi người, nên Ađam phạm tội thì mọi người bị tội. Nhưng đây chỉ là hậu quả, cái cốt yếu là mọi người được cứu độ trong Đức Kitô. Đâu tội đầy tràn, đấy ân sủng chứa chan! Nói cách khác, chúng ta không được đại xá (gracié), nhưng chúng ta có duyên (gracieux). Và là việc kỳ diệu. Khi ta thoát chết, thì cái theo là phép lạ: Mỗi lần nhìn nó, ta biết ta còn sống! Tín điều về tội Tổ Tông phải làm ta phấn khởi: Ta toàn thắng nó nhờ Đấng đã thương yêu ta (Rm 8, 37).

15. Cây hằng sống

Thấy nó trong 2, 9 rồi 2, 16 con người có thể ăn nó. Nó lại hiện ra ở 3,22-23. Ta phát giác ra lòng nhân từ của Thiên Chúa. Ngài không ganh tỵ như con rắn bảo. Ngài nắm, chỉ một mình Ngài nắm quyền sống, và Ngài sẵn sàng ban cho ai muốn: Kìa trước ngươi sống và chết: Chọn sống đi! (Nl 30,19-20).

16. Địa đàng: Phận sự phải làm

Tác giả muốn nói hai điều khó nói và khó giữ cùng lúc. Điều 1 là do lòng tin: Thiên Chúa đã dựng nên con người để sống hạnh phúc và tự do; Thiên Chúa không dựng nên tội và sự dữ. Điều 2 là do kinh nghiệm: Mọi người đã phạm tội, vì ai cũng muốn làm Thiên Chúa, và xưa nay cứ vậy.

Ta cầm trên tay đồng bạc: Không thể xem hai mặt một lúc, hay là xẻ đôi ra, thì không còn là đồng tiền nữa. Đó là điều Giavít làm ở đây. Hai lời khẳng định là hai mặt của thực thể con người; Giavít phân rẽ ra, đặt hai bên “Cái trước” và “Cái sau”. Rõ ràng nhé, nhưng không còn là con người nữa! Cái trước ở đây, không là thời gian lịch sử, nhưng là hình ảnh thần học: Nó chỉ nói lên ước muốn của Thiên Chúa, ước muốn, thực tế không bao giờ thành.

Sau Giavít một chút, ngôn sứ Israel sẽ dùng cũng những hình ảnh này, nhưng phóng ra vào thời sau cùng: Đó là điều Thiên Chúa sẽ làm (Is 11,1-9). Giavít và Isaia nói với ta có lẽ cùng một điều: Địa đàng không ở đằng sau ta như một giấc mơ đẹp đã tan; địa đàng ở trước mặt ta đó là phận sự phải làm.

(còn tiếp)

ETIENNE CHARPENTIER

Trích “Du lịch Thánh Kinh”, tr. 48-59

* Bài liên quan:

Du lịch Thánh Kinh (1)

Du lịch Thánh Kinh (2)

Du lịch Thánh Kinh (3)

Du lịch Thánh Kinh (4)

Du lịch Thánh Kinh (5)