Du lịch Thánh Kinh (7)
(tiếp theo)
10. Các Ngôn Sứ của Vương Quốc Giuđa
1. Ý niệm về Ngôn Sứ
Không là người báo mộng tương lai (Tiên Tri), mà là người nói nhân danh Thiên Chúa (Ngôn Sứ), một người được đưa vào trong kế hoạch của Thiên Chúa (Am 3, 7) và từ đây xem thấy mọi sự cách nhãn tiền.
Có phải nghĩ đến những mặc khải lạ lùng không? Không buộc nhưng hình như họ nhận lời Thiên Chúa trong hai lúc hay nơi: Ơn gọi và nơi sống. Ơn gọi thì quyết liệt: Đó là lúc họ cảm nghiệm được Thiên Chúa, khi viếng đền thờ như Isaia, lúc cầu nguyện liên lỉ như Giêrêmia trong mối tình đau khổ như Ôsê… dưới ánh sáng này từ nay trong đời sống, những biến động lớn, cũng như cuộc sống hàng ngày, họ sẽ khám phá ra lời ấy, đọc những dấu chỉ thời đại.
Ngôn Sứ nói ra những lời, những sấm, những tuyên ngôn và nhất là hành động. Những hành vi Ngôn Sứ nói lên Lời Thiên Chúa và làm ra lịch sử (x. BJ Gr 18, 1).
Vương Quốc Giuđa chỉ có hai Ngôn Sứ là Natan và Isaia.
2. Natan
Natan không để lại bút tích nào. Nhưng ông giữ một uy thế quan trọng bên cạnh vua Đavít.
Ta đọc 2 Sm 7,1-17 và đặt trong bối cảnh tôn giáo và chính trị của nó. Lưu ý những tương phản: An tọa, di động dưới lều (Tob) hay ở trong nhà và trú ngoài trại (Bj); nhà làm nên và nhà triều đại; dân ta, danh ngươi. Xác định hai quan niệm về Thiên Chúa.
Địa vị nhà vua thế nào? Những tước hiệu của Đavít: Tôi tớ, mục tử, vua. Nên đọc thêm 1 Ký Sự 17,1-15. Sách này viết thời Lưu Đày, như là hơn 5 thế kỷ sau. So sánh 2 Sm 7, 14 với 1 Ks 17, 13 (không hiểu được con vua Đavít mà phạm tội!). Rồi 2 Sm 7, 16 với 1 Ks 17, 14 (các tính từ sở hữu đã đổi). Điều ấy muốn nói, trong 5 thế kỷ qua, khuôn mặt con vua Đavít đã tăng giá trị. Thánh Vịnh 2 cũng tán dương danh hiệu con vua Đavít như danh hiệu của Đức Giêsu.
Những lần can thiệp khác, nhất là khi nhà vua sa ngã, được kể trong 2 Sm 12 và 1 V 1.
3. Isaia
Isaia hay Esaia giảng dạy tại Giêrusalem giữa năm 740 và 700. Là thi sĩ lớn, là chính trị gia khôn khéo, nhưng trước hết là một Ngôn Sứ, ông có uy tín nhiều lắm trên thời đại ông đã vậy, mà hai thế kỷ sau, còn có những người tự xưng là môn đệ. Vì thế, ta phải phân biệt sách Isaia (66 chương) và các Ngôn Sứ: Is 1-39 thì một phần là tác phẩm Isaia; Is 40-55 là tác phẩm của một môn đệ thời Lưu Đày; và Is 56-55 là tác phẩm của một môn đệ sau Lưu Đày.
Hoàn cảnh chính trị thời Isaia rất phức tạp. Hai vương quốc Giêrusalem và Samari đều thịnh vượng (ít là đối với người giàu đè bẹp người nghèo!). Nhưng cường quốc Assyrie đang đe dọa. Khoảng năm 734, các vua Đamas và Samari muốn Giêrusalem vào trong liên minh chống lại Assyrie: Chiến tranh syrô-êphaimít đó sẽ là ngòi cho những súng sấm của ông nổ.
Hai dẫn nhập vào Isaia của Tob và BJ sẽ giúp ta hiểu. Riêng ta nên đọc 12 chương đầu, hay chỉ đọc 6-12; 28,16-17 và 29,17-24.
Ơn gọi của ông (Is 6) cắt nghĩa sứ điệp của ông. Vừa tới đền thờ, ông cảm nghiệm ngay Thiên Chúa hiện diện, còn ông chỉ là người và người tội lỗi: Ông tưởng ông chết mất. Nhưng Thiên Chúa giữ ông và thanh luyện ông. Ông thoáng thấy rằng tội lớn nhất là tội kiêu ngạo (cứ tưởng mình đúng, cứ cho mình là Chúa), và lòng tin (ký thác hoàn toàn và khiêm nhu vào Thiên Chúa).
4. “Không ai có thể thấy Thiên Chúa mà không chết…”
Câu này thường trở đi trở lại trong Thánh Kinh, đó là câu Isaia đã từng cảm nghiệm. Không phải vì Thiên Chúa độc ác, nhưng vì Thiên Chúa khác hẳn chúng ta! Dòng điện rất tốt lành, nhưng khi rờ tay vào thì… nhất là điện cao thế… Thiên Chúa cũng tựa như Đấng Tối Cao, ta cần được chuẩn bị… Chính vì thế khi hiện ra, Thiên Chúa che phủ vinh quang mình đi. Ông Môsê chỉ được thấy “lưng Thiên Chúa” thôi (Xh 33, 12s)
Đàng khác, chúng ta tội lỗi, đứng trước Thiên Chúa 3 lần thánh làm sao được!
Chúng ta cần được Thiên Chúa tinh luyện trong Con Ngài là Đức Kitô, thì chúng ta mới “dám” gọi Ngài là Cha.
Isaia muốn cho dân chia sẻ cảm nghiệm của mình: Thiên Chúa tựa tảng đá giữa đường: dân phải chọn: Kiêu ngạo thì vấp ngã (8, 14) và phải chết (5); tin thì dựa vào (10,20-21) tảng đá đó là Đấng Mêsia (28, 16). Hỡi ôi, lời giảng dạy đó chỉ làm cho đa số cứng lòng thêm, nhưng lại cấu tạo nên một thiểu số tín đồ (6,9-11).
Isaia là người xứ Giuđê. Đối với ông, vua là con Đavít, Con Thiên Chúa, đảm bảo niềm tin cho dân, là đại diện cho dân trước Thiên Chúa. Vì thế, ông đau khổ biết bao khi vua Akhát thất trung: Akhát đã sát tế con trai mình cho tà thần (2 V 16, 3) vì lẽ Đamas-Samari liên minh với nhau, ông không tin Lời Thiên Chúa hứa cùng Đavít, Isaia đến nhắc cho nhà vua biết rằng: Thiên Chúa vẫn giữ lời hứa, và đứa con khác sẽ sinh ra… được gọi là Emmanuel, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta (Is 7), sẽ đến thiết lập hòa bình cho thế giới (Is 11).
Những sấm ngôn khác nhau trên đây rất quan trọng, nhưng đôi khi khó hiểu: Hãy chú giải của Tob hay Bj.
5. Mikê (Mica)
Isaia thuộc quý tộc, còn Mikê là dân nghèo: Nạn nhân chiến tranh, người hùng và nạn nhân bất công người giàu. Ngày kia, ông lên Giêrusalem xin Thiên Chúa oán phạt.
Ta nhớ một câu (Mk 6, 8), trong đó ông tổng kết sứ điệp của ba Ngôn Sứ đồng thời: Amos giảng về công bình, Ôsê giảng về tình yêu, Isaia giảng về lòng tin, như sau:
Hỡi người, Ta cho ngươi biết cái gì là thiện hảo, cái gì là Thiên Chúa đòi hỏi ngươi: chẳng gì cả ngoài sự công bình, tình yêu tha thiết và sống khiêm nhu ký thác vào Thiên Chúa.
Bạn còn có thể đọc những tiếng la chống lại bất công xã hội (2,1-5; 3,1-12; 7,1-7), tiếng loan báo vị Mêsia không là con Đavít vua Giêrusalem, nhưng là con Đavít chăn chiên ở Bêlem (5,1-5; Mt 2, 6 trưng dẫn) hay sứ điệp hy vọng (7,1-10; Lc 1, 73 trưng dẫn).
Chương ba: Vương quốc miền bắc (935-721)
Từ Giêrusalem, phái đoàn du lịch lên xe ca, trực chỉ hướng bắc. Khoảng 50 cây số thôi, xa cách hai thủ đô đối nghịch nhau: Là Giêrusalem và Samari. Về nhiều phương diện, vương quốc miền bắc là Israel rất khác với vương quốc anh-em-địch-thù miền nam là Giuđa.
I. Tổng quát
1. Vị trí địa dư
Một cái nhìn lên bản đồ nói nhiều hơn một diễn văn dài. Giêrusalem tọa lạc trên đồi núi, gần sa mạc Giuđa. Đất sỏi chỉ trồng được một ít ngũ cốc, có thể trồng nho, trồng cây dầu và chăn nuôi cừu. Cả vương quốc không có cửa ra biển – đồng bằng phì nhiêu Shêphêla lại bị người Philitin chiếm cứ - chỉ còn quay về miền thung lũng sông Giođan và Biển Chết thôi.
Vương quốc miền bắc, trái lại, chiếm các đồi núi Samari đã vậy, chiếm cả các thung lũng xanh rờn và đồng bằng trù phú của Saron và Ysrêêl. Việc di chuyển thủ đô nói lên sự tiến bộ đó: Giêrôbôam, vua đầu tiên đặt thủ đô ở Tirsa, hướng về sông Gioađan. Vua Omri kế vị, mua đồi Samari và đặt thủ đô tại đó: Bây giờ là xây ra biển, buôn bán dễ dàng với các nước Canaan phía bắc (Liban và Syrie ngày nay). Điều này giúp ta hiểu hoàn cảnh kinh tế và tôn giáo.
2. Hoàn cảnh kinh tế
Phải đọc sách Amos (2, 12; 5, 11; 6, 4) mô tả các dinh thự Samari, tường lát xà cừ, trang trí ngà voi, mới biết được dân xứ giàu có đến mực nào? Và cũng bất công làm sao? Những cuộc đào đất khảo cổ tại Tirsa, thủ đô cũ, cho biết bên cạnh đền đài, cách nhau một bức tường thôi, là chi chít những hang ổ chuột, những nhà nhỏ…
3. Hoàn cảnh tôn giáo
Hơn Giuđa, Israel sống giữa, sống với người địa phương Canaan, thường đi lại với dân Tyr, dân Siđon là những dân theo một thứ đạo rất hấp dẫn, là thờ thần Baal, thần Astartê, là thần sinh sản, phát tài phát tướng… Israel muốn bắt cá hai tay, đi khập khiễng hai chân như Êlia nói: Vừa thờ Giavê vừa lạy Baal!
Để ngăn cản dân đi lên Giêrusalem, vua Giêrôbôam cho dựng dài hai con bò tót (các Ngôn Sứ sẽ nhạo là 2 con bê) ở ranh giới vương quốc, giữa Đan và Bêten (1 V 12, 26s). Những con bò tót đó, thực sự, phải được dùng để làm bệ chân cho Giavê Thiên Chúa thật đứng thôi!
4. Hoàn cảnh chính trị
Chế độ quân chủ phục hồi thời Đavít – Salômôn, tiếp tục ở Israel. Nhưng ở đây các vua không còn là những người kế vị hợp pháp của nhà Đavít: 8 trên 19 bị ám sát. Vua không còn là con vua Đavít nữa, thì không thể làm con Thiên Chúa được. Chính Thiên Chúa phàn nàn “họ đã dựng nên những vua không cần đến Ta” (Os 8, 4). Vì thế, vua không là hình ảnh thống nhất của dân, cũng không là đại diện cho dân trước Thiên Chúa như tại Giuđa. Tại Israel, đại diện dân là vị Ngôn Sứ, thường chống đối vua.
5. Chính trị quốc tế
Israel thấy mình bị gắn chặt chẽ vào chính trị thời mình. Ai Cập lúc bấy giờ đang suy yếu. Assyrie thì mạnh, sẽ nhiều lần tấn công Canaan.
Bắc Israel có nước Aram nhỏ là Đamas đang vươn lên. Xét về gốc Sêmít và uy thế, thì gần với Israel và Giuđa, lúc thì đồng minh lúc thì đối thủ. Một sử liệu Assyrie cho biết, năm 853, Assyrie đã phải đối đầu với liên minh các nước Aram trong đó Akáp, vua Israel, có tới 200 chiến xa và 10.000 quân lính.
Cả Israel cả Giuđa đã đạt tới đỉnh thế lực vào năm 750. Assyrie muốn tiến quân về phía Địa Trung Hải, thì cản trở đầu tiên là Đamas. Cái may cho Israel và Giuđa là Đamas bị hãm hại thì không hại được ai, lại còn trở nên tiền đồn chống Assyrie! Không cần chính trị cao cũng biết rằng: tình trạng đó không thể kéo dài được mãi. Nhưng lúc này đây, lợi dụng hoàn cảnh, cả hai đều được thái bình thịnh vượng. Hai Ngôn Sứ Ôsê và Amos dạy trong thời này.
Nhưng năm 732, Assyrie chiếm Đamas và năm 721 chiếm Samari. Nhân dân một nửa bị đi đầy, một nửa bị đồng hóa: Đó là tận số nhà Israel.
6. Những người Samari sau năm 721
Không phải tất cả dân xứ bị lưu đầy, một số còn ở lại Samari. Assyrie đưa sang đó nhiều kiều dân, mang theo nhiều truyền tụng và nhiều thần để thờ. Đây là gốc tích một dân mới, có giòng máu pha trộn, vừa thờ Giavê Đức Chúa vừa thờ các ngẫu tượng. (Đọc trình thuật dí dỏm và tư vị của 2 V 17,24-41).
Chúng ta sẽ thấy những xáo trộn và xung đột giữa những người Samari nhìn nhau với con mắt nào!
7. Hoạt động văn hóa
Chắc chắn, ngay từ thế kỷ 9, các truyền tụng về Ngôn Sứ Êlia đã được ghi chép (1 V 17-19; 21; 2 V 1-2). Rồi năm 750, đến lượt các tích truyện Êlisêu (2 V 3-9) và những trang sử đẹp như cuộc Giêhu khởi nghĩa (2 V 9-10) cũng được soạn thảo.
Cũng vào năm 750 lịch sử Thánh miền bắc gọi là “Truyền Thống Êlôhít” đã được viết ra. Sau cùng thu thập các luật lại để thích nghi với đời sống mới, hoàn cảnh xã hội mới, cũng đã làm. Chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi sứ điệp các Ngôn Sứ, tổng hợp những luật này sẽ làm cái nõn tủy cho cuốn Nhị Luật hay Đệ Nhị Luật sau này.
II. Các Ngôn Sứ vương quốc miền bắc
Trong vương quốc này, Tiên Tri hay Ngôn Sứ, chứ không phải vua, là người bảo lãnh lòng tin. Chúng ta lắng nghe ba vị Đại Ngôn Sứ.
1. Êlia
Cũng như Natan tại Giêrusalem, Ngôn Sứ Êlia không có viết sách nào. Tuy vậy, ông và ông Môisê là hai vĩ nhân trong Cựu Ước. Tân Ước, đặc biệt Luca, sẽ trình thuật Đức Giêsu như Êlia mới.
Êlia là tắt của chữ Hípri Eli-Yahu, nghĩa là Thiên Chúa của tôi là Giavê: Tên ông là một chương trình. Ông sinh ra thế kỷ 9, thời vua Akáp. Vua này cưới nàng Giêzabel, con vua Tyr. Cuộc tình duyên này đem lại thịnh vượng cho Israel. Nhưng nàng công chúa rước cả thần Baal của nàng về. Và dân thờ Giavê và lạy cả Baal… Êlia bắt họ phải chọn lựa.
Đọc mấy trang sau: 1 V 17-19; 21; 2 V 1-2. Thử nêu vài nét chính, tỷ dụ:
1.1 Con người đứng trước Thiên Chúa, kiểu nói Thiên Chúa tôi thờ hay trước mặt Người tôi đang đứng, được lập đi lập lại nhiều lần.
1.2 Được Thần Khí mang đi, độc câu trả lời ý nhị của Ôvađiahu trong 1 V 18, 12. Sức mạnh tâm hồn và tự do nội tâm của ông là ở đó.
1.3 Lòng tin không chia sẻ, trong dịp tế lễ trên núi Carmel (1 V 18), ông muốn bắt dân phải chọn giữa Thiên Chúa hằng sống, Ngôi Vị, can thiệp vào lịch sử, và các thần lực thiên nhiên của Baal. Cũng như chúng ta, ông tin mà không thấy: Vì Thiên Chúa đòi ông như vậy, ông báo sẽ có mưa… nhưng ông chẳng thấy gì cả (1 V 18, 41s)!
1.4 Sống thân tình với Thiên Chúa, thị kiến của ông (1 V 19) và thị kiến của Môsê (Xh 33, 18s) sẽ mãi mãi là mẫu gương đời sống thần bí: Đó là cái tối đa con người được phép trông thấy. Nhưng Êlia vẫn là người như ta, ngã lòng, lo sợ (19, 1s). Phải dịch câu 19, 12: “Tiếng động trong im lặng” thế nào? Thiên Chúa không ở trong sức mạnh thiên nhiên, Thiên Chúa nhiệm mầu nhưng ta có thể linh cảm được sự hiện diện của Ngài trong thinh lặng và trống không: Ngài là Thiên Chúa ẩn kín. Khi cầu nguyện, ông cũng như Môisê, không dạt dào tình cảm: Ông nói với Thiên Chúa về sứ vụ mình.
1.5 Bênh vực người nghèo, trước mặt vua chúa, quan quyền, ông thẳng thắn làm luật sư cho người nghèo (1 V 21).
1.6 Tinh thần đại kết, vì ông tin vào Thiên Chúa và để Thần Trí hướng dẫn, nên ông rất tự đo đi lại với dân ngoại cách thoải mái (1 V 17), nhưng với một bà ngoại đạo nào đó, ông đòi phải tin vô điều kiện (17, 13).
1.7 Các tích truyện Êlia (2 V 1), những câu chuyện bình dân, kiểu ông Êlsêu, không ngờ đẩy ông đến tư thế một pháp quan, khiến lửa trời xuống thiêu hủy tội nhân!
1.8 Êlia được đưa lên trời (2 V 2), vì không khám phá ra mồ ông ở đâu nên thiên hạ cho là đã được đưa lên trời! thánh Luca, dựa vào câu chuyện này, để trình thuật việc Chúa thăng thiên (Cv 1,6-11): Bởi vì thấy ông Êlia lên trời, nên ông Êlisêu nhận được tinh thần của thầy mình để tiếp sứ mạng, các Tông Đồ cũng thế, được chứng kiến việc Chúa lên trời, nên đã nhận được Thần Linh là Thần Trí Đức Giêsu.
1.9 Đức Giêsu, Tân Êlia, với thánh Luca, đọc những trang thánh Luca viết, liên tưởng rõ ràng đến truyện Êlia như: Bài giảng ở hội đường Nagiarét (4, 26), hồi sinh cho một thanh niên ở Naim (7, 12.15), chữa bệnh cho đứa bé (9, 42), Chúa lên thành Giêrusalem (9, 51.54.57.61.62), Chúa hấp hối tại vườn cây dầu, có thiên thần đến an ủi (22, 43.45). Nhưng Luca lại bỏ mất Lời Chúa nói: Gioan Tẩy Giả là Êlia đã tới (Mt 11, 14; 17,11-13).
Chúng ta thấy những nét nổi bật nơi Êlia vẽ lên chân dung của Đức Giêsu theo Luca: thân tình với Chúa Cha, cầu nguyện luôn, sống thoải mái dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần, tinh thần đại kết, tình thương người nghèo, người tội lỗi, người bị khinh rẻ, các phụ nữ, tính nghiêm khắc đòi tin vô điều kiện. Cũng như Êlia, Đức Giêsu là người chỉ có một mục đích: đi lên tới nơi được bốc lên: Vừa là đưa lên thập giá, vừa là đưa lên vinh hiển Chúa Cha.
II. Amos - Thực thi công bình
Là người chăn chiên, xứ Têqoa, gần Belem, Amos được Thiên Chúa sai lên miền bắc, thời hoàng kim của vương quốc Samari, triều vua Giêrôbôam II. Là nhà giảng thuyết bình dân, có tiếng nói xanh rờn! Ông xúc động trước cảnh xa xỉ của người giàu và cảnh bất công với người nghèo: 3, 13 - 4, 3 (xa xỉ); 2,6-16; 8,4-8 (bất công xã hội).
Ông là Ngôn Sứ: Hai lần ông nói về ơn gọi của ông: 7,10-17; ông kể chuyện đó ra: 3,3-8; ông cho nó một ý nghĩa: Ngôn Sứ là người được đưa vào trong kế hoạch của Thiên Chúa, và từ nay chỉ nhìn mọi sự dưới ánh sáng đó, và cố gắng nhận ra kế hoạch đó trong đời sống và trong các biến cố.
Học thuyết xã hội của ông dựa trên Giao Ước: Giao Ước đây không là bảo hiểm để ta sống bừa bãi. Đây là một trách nhiệm: Ta chỉ biết thương yêu có mình ngươi – Giavê phán như vậy, vì thế Ta sẽ hạch ngươi về hết mọi độc ác của ngươi (3,1-2).
Nếu Giavê sửa phạt là để hối cải. Ông tiên báo một số nhỏ “tồn tại”: Một số được cứu khỏi tai ương (3, 12) và như thế vẫn còn hy vọng (8,11-12; 9,11-15).
Thiên Chúa của ông không là một Quốc Thần: không chỉ lo lắng cho dân nước mình, mà còn cho muôn dân muôn nước (1, 3-2, 3; nhiều gương sấm đẹp). Ngài là Đấng Hóa Công: Ông dẫn chứng một bài thơ, cảm hứng theo một thi ca Canaan (4, 13 – 5,8-9 – 9,5-6).
(còn tiếp)
ETIENNE CHARPENTIER
Trích “Du lịch Thánh Kinh”, tr. 59-70
-------------------------------------------------
* Bài liên quan:
.jpg)