Du lịch Thánh Kinh (9)

5 /5
1 người đã bình chọn
Đã xem:  | Cật nhập lần cuối:2015-04-30 06:52:41  | RSS

(tiếp theo)

Chương IV: Giai đoạn của vương quốc Giuđa (721 – 587)

Chúng ta đã dừng chân lâu ở vương quốc thống nhất của Đavít – Salômôn, từ đó chúng ta đi tham quan vương quốc miền bắc, nay chúng ta trở lại vương quốc miền nam hay vương quốc Giuđa, trong giai đoạn chót, từ khi vương quốc miền bắc sụp đổ (721) cho tới Giêrusalem thất thủ (587).

I. Cục diện bối cảnh

1. Giuđa giữa những năm 933 đến 721

Một tiểu quốc bị kềm kẹp giữa hai gọng kìm Israel và Philitinh, co mình trên đồi núi chung quanh Giêrusalem, sống nghề trồng tỉa, chăn nuôi, nhất là nuôi cừu, cũng có buôn bán với Ai Cập và A Rập. Thế thôi.

Về chính trị, dĩ nhiên phải chịu ảnh hưởng của tình hình quốc tế. Trong một thời gian, khi mà hai cường quốc Ai Cập và Assyrie suy yếu, thì sinh hoạt chính trị và quân sự có tập trung và Canaan: đấu tranh, giao hòa thắng và bại giữa các tiểu vương quốc Giuđa, Israel và Đamas.

Cục diện đổi hẳn, từ năm 745, với sự xuất hiện của Assyrie. Để chống lại, Đamas và Israel bắt tay nhau, muốn kéo Giuđa vào: Đó là chiến tranh syrô-êphaim. Akát, vua Giuđa, cầu cứu vua Assyrie, vua Assyrie tới chiếm Đamas năm 732, rồi chiếm Samari năm 722-721. Xúc động lớn cho vương quốc Giuđa về cả hai phương diện chính trị và tâm lý.

2. Giuđa giữa những năm 721 đến 587

Tất cả lãnh thổ miền bắc Giêrusalem (cựu vương quốc miền bắc) trở thành một tỉnh của Assyrie. Vua Akát vì đã cầu cứu Assyrie, nên phải chịu phần nào trách nhiệm trong cuộc đổ vỡ này.

Êdêkiát lên ngôi cha, cai trị với chính sách mập mờ, khi thì đi với Ai Cập, khi thì đi với Babylon, kẻ thù của Assyrie.

Năm 701, vua Assyrie xua quân đánh Giuđa. Êdêkiát đắp lũy đào kênh – kênh Êdêkiát -, một thứ hầm chuyển nước từ suối Guihon tới giếng Silôe trong nội thành. Nhưng vua Assyrie nhốt nó lại trong thành như “nhốt con chim vào lồng”. Sau nhà vua rút quân (có lẽ vì nạn dịch), chỉ bắt Êdêkiát triều cống.

Manassê, vua hung ác, cai trị 45 năm, ngoan ngoãn phục tùng vua Assyrie. Vua Assyrie lúc ấy là Assourbanipal, là vua nghệ sĩ và văn sĩ, có một tủ sách chứa đựng trên 20.000 bảng sách sử ký, văn chương của Trung Đông. Nhưng thế giới đang muốn xoay chiều, khi mà Babylon vùng lên, phía đông, tại Iran bây giờ, dân Mêđê nổi dậy, và phía tây, Ai Cập tỉnh giấc.

Chính trong bối cảnh này, vua Giôsiát cai trị Giêrusalem 30 năm. Năm 622, người ta khám phá ra trong thờ một cuộn sách dài, ghi chép những Luật dùng trong cựu vương quốc miền bắc, bổ sung vào để biến thành Đệ Nhị Luật sau này. Nhà vua đem những luật này áp dụng vào cuộc canh tân chính trị và tôn giáo của mình (2 V 22-23).

Năm 612, thành Ninivê, thủ đô Assyrie thất thủ. Các dân tộc Trung Đông reo mừng! Nhưng đây chỉ là đổi chủ: Đại tướng Babylon lên ngôi, lấy hiệu là Nabucôđônôsô, và hịch đầu tiên của ông là đi đánh Ai Cập.

Vua Giôsiát muốn chặn đường tiến, thì tử trận tại Mêghiđô. Cả nước khóc thương: Cuộc canh tân tàn lụi!

Năm 605, sau chiến thắng ở Karkêmích, Nabucôđônôsô trực chỉ Palestin, chiếm Giêrusalem năm 597, phát lưu nhà vua và một số dân thường, trong đó có tư tế, Ngôn Sứ Êdêkien, đặt vua bù nhìn cho Giêrusalem rồi ra về. Vừa quay lưng về, thì Giêrusalem cầu cứu Ai Cập. Giận dữ, Nabucôđônôsô trở lại, phá hủy thành, đốt đền thờ, và bắt tất cả lưu đày Babylon. Hôm ấy là ngày 9/7/587 hay 586. Đó là tận số vương quốc Giuđa.

3. Hoạt động văn hóa

Nhiều thầy Lêvi từ bắc di cư về Giêrusalem, đem theo các sử liệu văn hóa như: Lịch sử thánh miền bắc (truyền thống Êlôhít), bộ Luật, Sấm Ngôn.

Bộ Luật có lẽ nặng, quá nặng tính chất miền bắc, được an nghỉ trăm năm dưới hầm đền thờ cho tới khi nhà vua Giôsiát quật lên. Ngoài ra, một số chuyên viên muốn dung hợp hai lịch sử lại: Lịch sử Giuđa (Giavít) và lịch sử miền bắc (Êlôhít), làm một gọi là Jêhôvít (Je).

Cuộc canh tân do vua Giôsiát chủ trương, bộ Luật miền bắc giúp rất nhiều và sau này sẽ là một thành phần của sách Nhị Luật.

Dưới ánh sáng của sách Nhị Luật, các tài liệu về Giôsuê, các Thẩm Phán, Samuel và các vua hiện ra rõ rệt dần dần. Sau hết, các lời sấm của các Ngôn Sứ Sôphôni, Nahum, Habacúc, Giêrêmi cũng được soạn thảo lại. Cả một số Thánh Vịnh nữa.

II. Sách Đệ Nhị Luật

Cuốn sách có một lịch sử dài và phức tạp: Việc biên soạn trải qua nhiều thế kỷ. Nó tiêu biểu cho một giòng tư tưởng, cần phải đặt vào thời của nó, vì cách suy tư về lịch sử Israel tìm thấy trong nhiều sách khác của Thánh Kinh.

1. Đệ Nhị Luật hôm nay và lịch sử của nó

Sách gồm một loạt diễn từ của ông Môisê. Trước khi tạ thế, ông muốn để lại cho dân những luật lệ và những lời khuyến dụ về cách sống phải có khi vào đất Canaan.

Thế nhưng luật lệ ấy, những khuyến dụ ấy, trong vương quốc miền bắc, trước cả khi Samari sụp đổ năm 721, người ta đã thấy rằng không còn mấy phù hợp với thực tế: Luật ấy dành cho dân du mục, mà nay thì dân đã định cư, thành một nước có tổ chức. Nhiều vấn đề mới được đặt ra, lớn có, nhỏ có, chẳng hạn: Việc gọi nhập nhũ của một thanh niên mới cưới vợ; nguy cơ lây nhiễm ngoại giáo; người giàu bất công, chèn ép kẻ nghèo… Cấp bức phải chỉnh đốn Bộ Luật, lo tái bản “lần thứ hai”. Chính vì thế mà ta có Đệ Nhị Luật hay Nhị Luật.

Các thầy Lêvi có công thu nhập và giải nghĩa các luật lệ đó,chắc đã được thụ giáo các Ngôn Sứ như Êlia, Amos, đặc biệt Ôsê. Các ông xác tín rằng Luật Thiên Chúa ra cho dân mình, không là một khế ước, mà là một Giao Ước, một sợi dây tình yêu, giống như sợi dây thắt chặt hai người yêu (Os 1 – 3)

Sau khi Samari sụp đổ năm 721, nhiều Lêvi trốn về Giêrusalem, mang theo nhiều tài liệu về Luật: Để nghiên cứu, để bổ sung: Chẳng hạn, cứ 7 năm, thì chủ phải tha hết nợ, phải phóng thích hết nô lệ (NL 15), khi chiếm được một thành, phải giết hết dân, sợ là bị lây tà đạo (NL 16), phải hành hương Giêrusalem vào 3 dịp đại lễ (NL 16). Luật này rất ý nghĩa: Thống nhất lòng tin, thống nhất dân tộc.

Cuối cùng, sau một số nhuận chính nữa, cuốn sách mới thành hình như một đại tổng luận ra mắt vào năm 400: Sách Luật năm tập hay Ngũ Thư.

2. Mấy nét đậm trong Đệ Nhị Luật

Về hình thức: Lời văn rất tình cảm. Tác giả không chỉ muốn dạy mà còn thuyết phục vâng giữ luật nữa.

  • Nhiều chỗ lặp lại như: Chúa, Thiên Chúa ngươi… nghe đây, nhớ kỹ, nào Israel… Hãy tuân giữ giới răn, luật lệ, tập quán…
  • Dùng lẫn lộn: Ngươi (số ít), rồi các ngươi (số nhiều). Đó là bằng cớ: Hai lần biên soạn. Nhưng đây là bằng chứng: Muôn người như một (ngươi) và mỗi người giữ cá tính của mình (các ngươi).

Về nội dung: Những tư tưởng mạnh:

  • Đức Chúa là Thiên Chúa duy nhất của Israel.
  • Ngài đã chọn cho mình một dân. Đáp lại dân phải yêu mến Ngài.
  • Ngài đã cho Đất để ở, với điều kiện dân phải trung thành với Ngài, phải nhớ đến Giao Ước Ngài hôm nay.
  • Chính trong phụng vụ, khi Thiên Chúa tập họp dân lại như ở trên núi Horép xưa, thì dân hãy nhớ lại và lắng nghe Lời Ngài.

3. Một giòng tư tưởng

Đệ Nhị Luật không chỉ là một cuốn sách. Người ta nói đến cả một Truyền Thống Đệ Nhị Luật (Deutéronome), ký hiệu là D: Cái đó nghĩa là có một giòng tư tưởng, có một cách đọc lại lịch sử trong một bối cảnh rõ rệt, bối cảnh sụp đổ của vương quốc miền bắc năm 721.

Năm 587, đến lượt vương quốc miền nam cũng sụp đổ. Nhiều thần học gia (cũng là nhà ái quốc) suy niệm về các biến cố ấy, và đọc lại lịch sử đã viết. Sau lần sửa lại bản thảo các sách Giôsuê, sách các Vua – cả sách các Thẩm Phán và sách Samuel nữa – và sửa lại lần cuối cùng, các tác giả cố gắng minh chứng phải sống trung thành với Thiên Chúa thế nào để lịch sử Israel có một hướng đi khác.

4. Một vài bản văn Đệ nhị luật

Đúng là ta phải đọc hết cuốn sách để am tường tình Chúa yêu thương dân Ngài thế nào, để nghe tiếng Ngài gọi và đáp trả bằng tất cả tấm lòng suốt đời ta. Nhưng ít là mấy đoạn sau đây:

  • Được Chúa chọn (4,32-40). Được Chúa chọn chỉ vì Chúa thương. Không là đặc ân mà là sứ mạng.
  • Nghe đây, Israel …(6). Những câu đầu của chương này đã trở nên lời cầu nguyện cho mọi người Do Thái vì đây là trọng tâm của lòng tin. Nghe đây (một chữ có hai nghĩa). Đức Chúa duy nhất! Khẳng định căn bản mà hậu quả là: Hãy yêu mến Đức Chúa hết lòng…
  • Đời sống hàng ngày như là bản xét mình (8,1-5). Thiên Chúa thử ta xem có một niềm tin tưởng Ngài không. Bản văn này được diễn lại khi chúa chịu cám dỗ trên sa mạc.
  • Luật không là bộ sách, nhưng là một yêu sách: Tình yêu phải trả bằng tình yêu(10, 12)
  • Đền thờ là nơi duy nhất Thiên Chúa ngự giữa dân Ngài (12,2-28), mỗi năm 3 lần phải hành hương lên đền thờ (16,1-17).
  • Ngôn Sứ thật (18,15-22) Thiên Chúa loan báo một Ngôn Sứ thật sẽ đến. Các tín hữu tiên khởi đều nói đó là Đức Giêsu.
  • Vô phúc ai bị treo thập giá (21, 22) Câu này thánh Phaolô coi như là khẩu hiệu sống cho mình (Gl 3, 13).
  • Tinh thần xã hội (24,14-22): Lòng yêu thương kẻ bé nhỏ, người nghèo.
  • Lễ tạ ơn của nhà nông (26,1-11). Ta sẽ đọc kỹ đoạn này.
  • Lời Chúa trong lòng ta (30,11-22).

III. Nghiên cứu bản văn “Lễ Tạ Ơn” của nhà nông (NL 26,1-11)

Dân Israel cư ngụ ở Canaan đã mấy thế kỷ rồi. Israel thờ một Thiên Chúa đã can thiệp vào lịch sử: Đây là “kinh Tin Kính” của họ. Thế nhưng, bây giờ Israel làm ruộng, đi buôn bán: Điều họ quan tâm là đất phì nhiêu, đàn vật sinh sản nhiều. Hằng năm vào dịp mùa, người Canaan có lễ hội tế thần Baal, là thần phong phú và sinh sản. Israel thừa nhận lễ đó, nhưng cho nó ý nghĩa gì?

1 Khi ngươi vào nhà Đức Chúa , Thiên Chúa ngươi ban cho ngươi làm gia nghiệp, khi ngươi chiếm và ở đó,

2 thì ngươi hãy lấy của đầu mùa nông sản đã thu hoạch được trên đất Thiên Chúa đã ban cho và đặt vào giỏ, rồi đi đến nơi Thiên Chúa,

Chúa ngươi đã chọn cho danh Ngài ngự.

Đền Giêrusalem

3 Ngươi sẽ đến với tư tế tại chức và nói: “Hôm nay, tôi xin với Đức Chúa, Thiên Chúa đã thề với cha ông chúng tôi là sẽ cho chúng tôi”.

4 Tư tế sẽ lấy giỏ từ tay ngươi, đem đặt trước bàn thờ Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi.

5 Bấy giờ ngươi sẽ lên tiếng thưa

Kinh Tin Kính

trước tôn nhan Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi rằng:

tích truyện

Tổ tôi là người Aram phiêu bạt đã xuống Ai Cập

mong có đất ở

và ở đó với một số người

Đức Chúa

nhưng đã thành một dân lớn, mạnh và đông.

làm lơ

6 Người Ai Cập đã ngược đãi, hành hạ chúng tôi, Và đặt ách nô lệ trên vai chúng tôi.

mong được tự do

7 Bấy giờ chúng tôi đã kêu lên cùng Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông chúng tôi, và Ngài đã nghe tiếng chúng tôi,

Đức Chúa

đã thấy cảnh khổ nhục, lầm than của chúng tôi.

thương dân người

8 Đức Chúa đã đưa chúng tôi ra khỏi Ai Cập bằng cánh tay mạnh mẽ, uy quyền.

9 Ngài đã cho chúng tôi vào đây ban cho đất này là đất chảy sữa và mật ong.

10 Và bây giờ, lạy Đức Chúa, con xin dâng của đầu mùa của đất đai mà Ngài đã ban cho con.

Mong được hạnh phúc trên đất đai không phải của mình

Và ngươi sẽ đặt lễ vật xuống, rồi ngươi sẽ phủ phục trước tôn nhan Đức Chúa.

11 Ngươi sẽ liên hoan với thầy Lêvi và ngoại kiều sống với ngươi, vì tất cả hạnh phúc Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi đã ban cho ngươi.

Đức Chúa được nhận là Chúa

Nếu không sợ là nói sai thời đại, ta sẽ bảo đây giống như một nghi lễ Tạ Ơn của chúng ta ngày nay: Dâng lễ - “kinh Tin Kính” kể chuyện… Thờ lễ và Hiệp lễ.

Một chút chút và nhiều cái nhìn khác, ta có thể khám phá ra trong bản văn này. Ta nên chú ý các đại danh từ: Ta/ ngươi – chúng tôi. Ban đầu thì chỉ nói đến ngươi, cuối cùng thì tất cả ngươi – Lêvi – ngoại kiều. Cả ba có gì chung nhau một nhóm (Tob Lv 25, 32)?

c.5b Không đất ở mà là dân lớn: Không có đất tự do! Thiên Chúa vắng!

c.6-9. Đối lại Ai Cập bắt làm nô lệ, Thiên Chúa cho đất tự do (đại danh từ chúng tôi, dùng khi gặp khó).

c.10-11 lấy lại c.1-4: Của đầu mùa thu hoạch được, trở thành của đầu mùa của đất đai mà Ta đã cho. Thiên Chúa được tôn vinh.

Quan hệ với đất cũng thay đổi, thầy Lêvi và ngoại kiều thừa hưởng đất không thuộc về họ. Cũng thế, của cải ta không thuộc về ta: Nó để mưu hạnh phúc cho ta và cho mọi người.

Những Ngôn Sứ đi đầu

Các sách Thẩm Phán, Giosuê, Samuel, các Vua ta gọi là sách lịch sử, thì người Do Thái gọi là sách các Ngôn Sứ đi đầu, đặt ngang hàng với các Ngôn Sứ sau, như Isaia, Giêrêmia… và nhiều vị khác.

Đây không chỉ là đổi tên mà là đổi ý. Những sách ấy không là sách lịch sử. Nó không giúp ta dựng lại lịch sử các biến cố, vì nếu khoa khảo cổ làm chứng là thành Giêricô đã hoang tàn khi ông Giosuê đến đó, cũng không sao. Tác giả không là phóng viên, chụp ảnh, mà là Ngôn Sứ nói lên ý nghĩa của biến cố.

Sách lịch sử: Có nghĩa là các tác giả đã suy tư nhiều về các biến cố để phát giác Lời Thiên Chúa chứa đựng trong đó. Sau này, các độc giả cũng có thể phát giác lời mời của Thiên Chúa trong hoàn cảnh lịch sử mới.

Khi đọc sách Đệ Nhị Luật, ta sẽ dễ đụng đến luồng tư tưởng gọi là tinh hoa Nhị Luật, quen gọi là Truyền Thống Nhị Luật. Sau biến cố 587, Trình Thuật các lầm lỗi của dân Israel và của các vua trở thành tiếng gọi sám hối. Thiên Chúa vẫn giữ lời hứa ban đất, với điều kiện dân phải trung thành với Ngài. Thiên Chúa vẫn ngự giữa dân Ngài với điều kiện dân Ngài đừng phản bội Ngài. Trong cuộc suy niệm này, về dĩ vãng, bừng lên ánh sáng soi chiếu hiện tại và một hy vọng về tương lai đã vươn lên!

IV. Các Ngôn Sứ Giuđa thế kỷ VI

Tiếng nói Ngôn Sứ Isaia đã im bặt không biết tự bao giờ. Theo truyền tụng Do Thái, thì ông có lẽ đã bị vua Manassê giết. Tuy nhiên, một thế hệ các Ngôn Sứ mới chỗi dậy, chúng ta lắng nghe…

1. Nahum

Phải đọc lại trận chiến xa giữa thủ đô Ninivê bị ngập nước: Biến cố này từ lâu ông đã tiên báo – ông giảng tại đó từ năm 660 – ông được “thấy” biến cố này năm 612. Thật là một cử chỉ lạ lùng về lòng tin vào quyền năng Thiên Chúa, biểu hiện trong câu Thánh Vịnh mở đầu cuốn sách, vào giữa thời mà Assyrie đang ở tột đỉnh cường quốc.

2. Sôphônia

Ngôn sứ này bắt đầu sứ vụ vào lúc triều ác vương Manassê kết liễu: còn tân vương Giôsiát lên ngôi thì chưa khởi công cải cách về đạo.

Phần I sách của ông (1,1-3.8) là một bản thống kê bi thảm. Ông thất bại vì không sao tìm ra được một người hiền đức công chính giữa dân trừ Thiên Chúa: Nhưng Thiên Chúa bị bỏ rơi! Giêrusalem đã không tới gần Thiên Chúa của mình nữa (3, 2), vì thế ngày nổi giận của Thiên Chúa đã gần (Dies irae dies illa… 1, 14)

Vì các thần thế, các vua, các Ngôn Sứ, các Tư tế đã thất bại, nên ông quay về với người nghèo trong lòng, không ỷ lại vào sức riêng, chỉ tin cậy vào Thiên Chúa (2, 3). Ông đã khai mào chủ đề “nghèo khó tâm linh”, là chủ đề sẽ phát triển mạnh trong Tân Ước.

Nhưng tình yêu Thiên Chúa mạnh hơn. Thiên Chúa thấy trước trong tương lai giây phút mà Ngài ngự giữa cung lòng thiếu nữ Sion, ở giữa dân Ngài, ở giữa muôn dân đã được tình yêu Ngài thanh luyện và, chỉ nghĩ tới đó, Thiên Chúa đã nhảy mừng (3,9-20).

3. Habacuc

Ông lên tiếng vào năm 600, khi mà quân Babylon xâm nhập Palestin. Theo ông, Babylon là cái roi Thiên Chúa dùng để trừng phạt Assyrie vì đã đàn áp Israel. Nhưng vấn nạn nêu ra: Làm sao Thiên Chúa lại dùng cái roi bẩn thỉu như thế? Tại sao kẻ dữ cứ mãi thành công? Ông đặt vấn đề thẳng với Thiên Chúa, Thiên Chúa trả lời một câu mà thánh Phaolô sẽ tóm lược sứ điệp của mình là “Người công chính sống bằng đức tin” (2, 4).

Lời cầu nguyện của ông là lòng tin và niềm vui trong Thiên Chúa giữa những thử thách đen tối nhất.

4. Thiếu nữ Sion

Hầu như một tiền lệ, là dân tộc nào cũng lấy hình ảnh nữ nhân làm tiêu biểu cho mình. Chẳng hạn Việt Nam có Hai Bà Trưng! Ôsê ví Israel như người “vợ thất trung” với Thiên Chúa, mà Thiên Chúa vì tình thương trả lại cho một quả tim con gái!

Ngôn Sứ Mikê lần đầu tiên sử dụng từ ngữ “Thiếu nữ Sion” (Sion là khu bắc Giêrusalem, trên đỉnh đồi có tên là Sion, nơi tàn quân trú ẩn sau khi Samari thất thế năm 721). Đây là nhóm người được tinh luyện trong gian khó.

Nhóm người đó, Sôphôni coi là tương lai của một dân mà Thiên Chúa khả dĩ đến ngự giữa được, bởi lẽ họ cũng đã được tinh luyện (3, 9).

Ngôn Sứ Giêrêmi nhấn mạnh hơn nữa về mầu nhiệm khổ đau của việc thanh luyện cần thiết (4, 11; 6, 23). Được thanh luyện rồi, người “phụ nữ” ấy sẽ tìm đến Thiên Chúa, “Người Yêu” của nàng (Gr 31, 22).

Các môn đệ Isaia giảng vào cuối thời lưu đày, cho ta thấy “Trinh Nữ Sion” ấy, bạn tình của Chúa, hạ sinh nhiều con (Is 54, 1; 60; 62): Thiếu nữ Sion, nào vui lên!... Nàng sẽ hạ sinh ra cả một dân mới (Is 66,6-10).

Các Tín Hữu đầu tiên dùng ý tưởng để trình bày mầu nhiệm Hội Thánh như người đàn bà, đau khổ trên đồi Canvê và suốt giòng lịch sử, để sinh hạ Đức Kitô (Ga 16,21-22; Kh 12). Theo Luca, Đức Maria là hình ảnh Hội Thánh tràn đầy ân sủng vào thời sau hết (Ep 1, 6) đang ôm Chúa vào lòng (Lc 1,28-31).

5. Giêrêmia

“Không có con người khác thường này, lịch sử tôn giáo của loài người đã theo một quỹ đạo khác… Đã không có Kitô giáo” (Renan).

Tấn kịch thảm khốc đè bẹp dân tộc năm 597 rồi năm 587 mà ông đã sống. Ông đã tiên báo và cố dọn lòng dân vô tư đón chịu, nhưng họ bách hại ông.

Giêrêmia khởi sự giảng dưới thời vua Giôsiát. Lời ông giảng không khác lời các vị tiền nhiệm ông. Ông chỉ muốn dân ý thức rằng mình đã lầm đường, rằng sống thế này là dẫn đến diệt vong. Hai từ -chìa khóa- ông nói đi nói lại là: Dân đã bỏ Thiên Chúa, dân phải trở về với Thiên Chúa.

Cũng hơi kỳ, trong thời gian vua Giôsiát lo việc chấn hưng đạo, thì ông lại ở lặng!

6. Vài nét son của ông

  • Đạo thật: Dân giữ đạo, tưởng là tôn kính Hòm Bia và đi lễ đền thờ là đủ rồi. Họ dâng của lễ, giữ ngày Sabát, cắt bì cho con cái… Họ giữ đạo bề ngoài, lòng họ không có ở đó! Họ tưởng cứ giữ đủ lễ nghi, thì Chúa sẽ phù hộ họ, phù hộ Giêrusalem là thành thánh. Họ coi việc giữ đạo như bảo hiểm, miễn cho họ khỏi yêu mến… Ông bảo: Thiên Chúa phá hết các bảo hiểm đó: Cả Hòm Bia Giao Ước (3, 16), cả đền thờ (7,1-5; 26) vì điều Thiên Chúa đòi, không là cắt bì ngoài da thịt mà trong tâm hồn (4, 4; 9,24-25). Các lời đó đều là những lộng ngôn phạm thượng đến nỗi ông thoát chết là phép lạ. Ông là tiền trưng cho Đức Giêsu vậy.

  • Giao Ước mới. Chương 31 là cao điểm của sứ điệp ông. Ở bên kia tai ương ông giảng hy vọng Thiên Chúa tha thứ và làm mới mọi sự. Ông căn cứ vào đâu mà quả quyết như vậy? Đọc 31, 20. Trách nhiệm cá nhân (c.29-30) là như điệp khúc bài giảng của ông (18). Những nét làm Giao Ước nên mới (31,31-434; Luca 22, 20 và Phaolô 1 Cr 11, 25): Trong máu Đức Kitô.

  • Những hành vi Ngôn Sứ như và còn hơn các Ngôn Sứ khác, Giêrêmi giảng bằng hành vi cũng bằng lời nói Ngôn Sứ là người nói Lời Chúa là Lời hiệu nghiệm. Đối với Thiên Chúa, nói là làm. Ngôn Sứ loan báo biến cố và làm cho biến cố hiện diện trước cả khi xảy ra. Theo nghĩa này, cử chỉ Đức Giêsu làm trong bữa Tiệc Ly là một hành vi Ngôn Sứ (x. BJ Gr 18, 1b; Tob 13,1).

  • Nhật ký Giêrêmi. Ông với thánh Phaolô là nhân vật Thánh Kinh được quen biết nhiều hơn cả. Ông thổ lộ tâm tình, những phản ứng cá nhân, tin và nghi ngờ, những lời tự thú (x. Tob 11, 18 – BJ 15, 10), những “Lời kinh”…

  • Ơn gọi (1,4-19) đối với ông không có gì khác thường: Hình như tất cả xảy ra trong khi cầu nguyện âm thầm và thân mật. Hai thị kiến (c.11 và c.13) cho biết một Ngôn Sứ “thấy” Thiên Chúa trong các biến cố làm sao. Còn ta có thể nhận ra Lời Chúa trong cuộc sống của ta và trong các biến cố thế sự được không?

7. “Thiên Chúa phạt anh…”

Các Ngôn Sứ hay giới thiệu một Thiên Chúa thích đe dọa, trừng phạt vì tội lỗi: Nào là thiên tai, loạn lạc, chiến tranh, bất công. Hình ảnh một Thiên Chúa hay trả thù báo oán… không thể chấp nhận.

Xin lấy một câu truyện. Đây một chàng trai chạy xe như gió. Xảy ra tai nạn, gãy giò, trở vào nhà thương: Tại đây, chàng được bác sĩ săn sóc đã vậy, lại nhất là được một cô y tá tận tình trông coi. Thế rồi cả hai lên xe hoa… Chàng rất có thể nói: Anh thật may mắn bị gãy chân vào nhà thương, thì mới gặp em! Ta dễ thông cảm với anh nhưng, cha tuyên úy gặp anh thì bảo: Sao? May mắn hả! Trong trường hợp thứ nhất, chính đương sự đã cho tai nạn một ý nghĩa: Tai nạn vốn là tai nạn, nhưng coi tai nạn như là cái may, đó là hiệu quả tốt của một rủi ro. Trong trường hợp thứ hai, ta có thể chê vị tuyên úy là thiếu tế nhị!

Các Ngôn Sứ giải thích các biến cố như chàng trai đó chứ không như vị tuyên úy. Êdêkien đi lưu đày cùng với dân; Giêrêmi thì bị bắt bớ và chịu những đau khổ trước khi dân phải chịu. Cả hai đều suy tư về các biến cố, đối với cả hai đều là tai họa. Nhưng cả hai đều tự trước hay sau biến cố một ý nghĩa, vì thấy hiệu quả tốt trong đó. Vì thế những tai họa xảy ra không phải là những hình phạt, nhưng là những cơ hội khám phá ra tình yêu Thiên Chúa mời gọi chúng ta đổi mới đời sống.

(còn tiếp)

Etienne Charpentier

Trích “Du lịch Thánh Kinh”, tr. 82-97.

-------------------------------------------------------

* Bài liên quan:

Du lịch Thánh Kinh (1)

Du lịch Thánh Kinh (2)

Du lịch Thánh Kinh (3)

Du lịch Thánh Kinh (4)

Du lịch Thánh Kinh (5)

Du lịch Thánh Kinh (6)

Du lịch Thánh Kinh (7)

Du lịch Thánh Kinh (8)