Suy niệm Bài đọc 2 - Chúa Nhật XIX thường niên năm A (Rm 9, 1-5)
BÀI ĐỌC 2 CN XIX THƯỜNG NIÊN NĂM A (Rm 9, 1-5) 09/8/2026
Tôi đã ước ao được loại khỏi Đức Ki-tô vì phần ích anh em của tôi.
Trích thư Thánh Phao-lô gửi tín hữu Rô-ma
1 Có Đức Ki-tô chứng giám, tôi xin nói sự thật, tôi không nói dối và lương tâm tôi, được Thánh Thần hướng dẫn, cũng làm chứng cho tôi rằng:
2 lòng tôi rất đỗi ưu phiền và đau khổ mãi không ngơi.
3 Quả vậy, giả như vì anh em đồng bào của tôi theo huyết thống, mà tôi có bị nguyền rủa và xa lìa Đức Ki-tô, thì tôi cũng cam lòng.
4 Họ là người Ít-ra-en, họ đã được Thiên Chúa nhận làm con, được Người cho thấy vinh quang, ban tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa;
5 họ là con cháu các tổ phụ; và sau hết, chính Đức Ki-tô, xét theo huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ. Người là Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi sự. Chúc tụng Người đến muôn thuở muôn đời. A-men.
Tám chương đầu trong thư gửi tín hữu Rôma, Thánh Phaolô miêu tả từng bước ân sủng Thiên Chúa hoạt động như thế nào, kế hoạch yêu thương của Người được thực hiện ra sao, từ Ađam và Ápraham cho đến khi Đức Kitô từ cõi chết sống lại và ban Chúa Thánh Thần. Tất cả chỉ vì một mục đích: ơn cứu độ vĩnh viễn chắc chắn sẽ được hoàn tất và mọi tạo vật được hưởng vinh quang của Thiên Chúa. Trước tất cả những điều ấy, Thánh Phaolô bày tỏ lòng ngạc nhiên và thán phục của mình. Nhưng có một điều hệ trọng khiến ngài luôn trăn trở và đau đớn: từ nay, tương lai của dân tộc Do Thái sẽ đi về đâu?
Chúng ta đã biết điều gì đã xảy ra với Saolô, người Pharisêu nhiệt thành ấy. Trên đường Đamát, mọi xác tín của ông dường như sụp đổ... Chính ngày ấy, ông hiểu rằng tin vào Đức Kitô không phải là chối bỏ đức tin Do Thái. Trái lại, nơi Đức Kitô, nhờ cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Người, mọi lời hứa trong Thánh Kinh đều được hoàn tất.
Đó là bài giảng chính yếu trong thư gửi tín hữu thành Côrintô của Thánh nhân : «Thưa anh em, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng tôi đã loan báo và anh em đã lãnh nhận cùng đang nắm vững…Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kê-pha, rồi với Nhóm Mười Hai…Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non.» (1Cr 15,1-9) Và ngài còn nói trong phiên tòa, sau khi bị nhà cầm quyền Do Thái Giêrusalem bắt vì những hoạt động tông đồ của ngài: «Được Thiên Chúa phù hộ, cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn tiếp tục làm chứng trước mặt kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn; tôi không nói gì khác ngoài những điều các ngôn sứ và ông Mô-sê đã báo trước sẽ xảy ra.» (Cv 26,22) Nhưng phần lớn anh em Do Thái không những đã không theo ngài, mà nhiều người trong họ còn trở thành những kẻ bách hại ngài quyết liệt nhất. Vào thời điểm Thánh Phaolô viết thư gửi tín hữu Rôma, chưa có sự tách biệt chính thức giữa Do Thái giáo và Kitô giáo: các tín hữu Kitô vẫn chưa bị trục xuất khỏi hội đường và chưa bị kết án là bội giáo trong các buổi cầu nguyện của người Do Thái. Thế nhưng, Thánh Phaolô đã phải chịu nhiều đau khổ trong những lần gặp gỡ các cộng đồng Do Thái, nơi ngài luôn cố gắng loan báo Tin Mừng. Vì thế, lúc bấy giờ ngài tự đặt câu hỏi: Phải chăng những người đồng đạo của mình đã bị Thiên Chúa từ bỏ vĩnh viễn? Còn các lời hứa và những sáng kiến yêu thương Thiên Chúa đã dành cho dân Người tuyển chọn thì sao ?
Thánh Phaolô trước tiên nêu lên sự kiện Chúa chọn dân này: «Anh (em) là một dân thánh hiến cho ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em).» (Đnl 14,2). Ngài còn thêm trong (Đnl 7,6-8): «Thật vậy, anh (em) là một dân thánh hiến cho ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em). ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em) đã chọn anh (em) từ giữa muôn dân trên mặt đất, làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người. ĐỨC CHÚA đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân. Nhưng chính là vì yêu thương anh em, và để giữ lời thề hứa với cha ông anh em, mà ĐỨC CHÚA đã ra tay uy quyền đưa anh em ra và giải thoát anh em khỏi cảnh nô lệ, khỏi tay Pha-ra-ô, vua Ai-cập.» Quả thật, sau đây là một lời đầy tình thương phụ tử đối với dân tộc Ítraen, tiên tri Hôsê nói: «Khi Ít-ra-en còn là đứa trẻ, Ta đã yêu nó, từ Ai-cập Ta đã gọi con Ta về…Ta đã tập đi cho Ép-ra-im, đã đỡ cánh tay nó…Ta lấy dây nhân nghĩa, lấy mối ân tình mà lôi kéo chúng. Ta xử với chúng như người nựng trẻ thơ, nâng lên áp vào má; Ta cúi xuống gần nó mà đút cho nó ăn.» (Hs 11,1…5)
Làm sao Chúa có thể quên những điều ấy? Làm sao giải thích Chúa không phản ứng thấy dân mình đi lạc hướng? Thế nhưng, ngoài việc được nhận làm nghĩa tử tuyệt vời ấy, Thánh Phaolô còn nói họ được hưởng: «Vinh quang, ban tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa» (c. 4), và Thánh Gioan còn nói trong Tin Mừng: «Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.» (Ga 1,14). Thánh vịnh hôm nay nói: «CHÚA phán là lời chúc bình an cho dân Người» (Tv 84,9). Buổi gặp gỡ đầu tiên với các môn đệ lúc phục sinh, Chúa nói: «Bình an cho anh em» (Ga 20,19). Hẳn tất cả Thánh Kinh đều nói, nhân loại gần như không thể đạt được sự bình an, thế nhưng là tương lai của chúng ta, với điều kiện đừng quên đó lại là ơn nhưng không từ Thiên Chúa.
***
Tác giả: Marie-Noëlle Thabut
Nguồn: L’ intelligence des Ecritures, Socéval Editions
Dịch giả: E. Máccô Lương Huỳnh Ngân
.jpg)