Vấn đề 'Thượng Đế' hay Thiên Chúa (4)

5 /5
1 người đã bình chọn
Đã xem:  | Cật nhập lần cuối:2015-05-23 08:52:08  | RSS

(tiếp theo)

III. Tri thức của con người về sự hiện hữu của Thượng Đế và vấn đề trí năng con người ở trong hay ở ngoài thế giới vật chất

Mãi cho đến gần cuối bài viết của tác giả Hồ Trung Tú, người đọc dễ nghĩ rằng tác giả đang muốn chứng tỏ rằng các nỗ lực về phía các thần học gia bảo vệ cho sự hiện hữu và vai trò cần thiết của Thượng Đế không phải là làm chuyện vô lý mà thực sự có ý nghĩa và cần thiết. Nhưng vậy mà không phải vậy. Ở cuối bài viết tác giả mới đưa ra lập luận của chính mình và tương đối hóa, nếu không phải là vô hiệu hóa, tất cả mọi nỗ lực của con người muốn bàn về Thượng Đế. Lập luận của chính tác giả tựu trung cho rằng nếu Thượng Đế có thì Ngài thuộc thế giới tinh thần, phi vật chất, nhưng con người thuộc thế giới vật chất, thuộc một hệ thống vũ trụ khác với hệ thống vũ trụ của Thượng Đế, nên trí năng của con người không có khả năng để bàn về Ngài, dù theo hướng khẳng định hay phủ định Ngài. Những công sức trước đó của tác giả có vẻ nghiêm túc biện minh cho 'rượu cũ' của các thần học gia thật ra chỉ là một thứ đòn bẩy giúp làm trội hẳn lập luận của chính tác giả nhằm tương đối hóa, vô hiệu hóa cả 'rượu cũ' lẫn 'rượu mới'. Hai phía 'rượu cũ' và 'rượu mới' tranh luận qua lại với nhau về vấn đề Thượng Đế, dầu phía 'rượu cũ' lý luận có vẻ hợp lý hơn, nhưng rốt cuộc tác giả vẫn trội hơn cả hai phía vì tác giả chỉ ra được yếu điểm chung căn bản trong tư duy của cả hai phía, một yếu điểm cả hai đều mắc phải mà không biết; nếu biết được thì cả hai phía sẽ thấy rằng rằng mọi lý luận dù bênh hay chống Thượng Đế của mỗi phía thật ra không có giá trị gì. Trong phần thứ ba của bài viết này tôi bàn đến những mâu thuẫn và sai lầm hàm chứa trong lập luận nói trên của tác giả.

1. Phải chăng vấn đề hiện hữu của Thượng Đế là chỗ bế tắc của trí năng con người?

Tác giả Hồ Trung Tú xem vấn đề hiện hữu Thượng Đế là chỗ trí năng con người chịu bó tay, bởi vì theo lập luận đã nói của tác giả, vấn đề đó lệ thuộc vào vấn đề khác mà trí năng không có khả năng trả lời (có hay không), tức vấn đề hiện hữu của một hệ thống nào khác ngoài vũ trụ vật chất: 'Có hay không một vũ trụ khác nữa, một vũ trụ phi vật chất của các thần linh? Thượng Đế nếu có, là phi vật chất'. Có thể diễn giải thêm về suy luận của tác giả như sau: Nếu có Thượng Đế có trong vũ trụ vật chất thì trí năng con người có thể chứng minh được sự hiện hữu của Ngài cũng giống như bao nhiêu hữu thể vật chất khác. Nhưng vì trí năng không thể chứng minh được Ngài có trong vũ trụ này, nên nếu Ngài có, thì Ngài phải thuộc về một vũ trụ khác, 'một vũ trụ phi vật chất của các thần linh' chẳng hạn. Nhưng cũng theo tác giả, đây chính là chỗ bế tắc của trí năng con người, vì chính trí năng đó thuộc về hệ thống vật chất của vũ trụ này, nên nó không có khả năng thích hợp hay tương xứng[1] để khám phá và chứng minh sự hiện hữu của một hệ thống vũ trụ khác, một vũ trụ phi vật chất chẳng hạn, và do đó nó cũng không có khả năng khám phá hay chứng minh sự hiện hữu của một thực tại thuộc về cái vũ trụ đó.

Nhưng lập luận nói trên của tác giả không đứng vững vì những lý lẽ sau đây:

Thứ nhất, như sẽ nói dưới đây[2] trí năng con người theo yếu tính là một khả năng thuần túy tinh thần, một khả năng vô chất thể, nên xét trong chính nó, nó không bị giới hạn vào hệ thống vũ trụ vật chất: nó có khả năng biết được cách nào đó sự hiện hữu của những gì không phải là vật chất.

Thứ hai, một trong những nguyên lý tất yếu làm nền tảng cho hoạt động của trí năng con người (principia per se nota) đó là nguyên lý nhân quả. Theo nguyên lý này trí năng vẫn có thể chứng minh rằng Thượng Đế có thật, mặc dầu vẫn không biết thích đáng Ngài là gì và cho dầu sự vô tri này - nếu giả như tác giả đúng - là do Ngài không ở trong cùng một hệ thống vật chất của vũ trụ này như trí năng con người. Thật vậy, nếu có cái gì đó thuộc về vũ trụ vật chất này mà trí năng con người biết được cách thích hợp, nhưng đồng thời không cái nào khác thuộc về vũ trụ này mà trí năng biết được lại có thể giải thích thỏa đáng hoặc sự hiện hữu, hoặc yếu tính, hoặc một thuộc tính nào đó của cái đang nói, thì trí năng có lý mà kết luận sự hiện hữu, yếu tính, hoặc thuộc tính vừa nói phải là hiệu quả của một nguyên nhân nào khác, và không gì cấm trí năng xem nguyên nhân đó là Thượng Đế cho đến khi chứng minh được điều ngược lại. Dù trí năng vẫn chưa biết thích đáng Thượng Đế thực sự là gì, nhưng ít nữa nó biết được: (1) Ngài có thật, bằng không hiệu quả đang nói đã không thể có được; (2) Ngài không phải là cái nào trong tất cả những gì thuộc về vũ trụ vật chất này mà trí năng biết được, bằng không Ngài đã không phải là nguyên nhân của hiệu quả đang nói (vì những gì thuộc vũ trụ này mà trí năng biết được đều không thể là nguyên nhân của hiệu quả đang nói). Nếu phủ nhận nguyên lý nhân quả như triết gia duy nghiệm David Hume đã làm, thì không chỉ trong thực tế những thí nghiệm, khám phá khoa học rất khó xảy ra, mà nhất là ngay cả tri thức con người nói chung và tri thức khoa học nói riêng cũng bị phủ nhận luôn, vì lúc đó tri thức con người chỉ thuần túy mang tính cách thường nghiệm, cá thể, và rời rạc (nghĩa là nếu tri thức đó có đúng thì cũng chỉ đúng cho từng trường hợp một). Dĩ nhiên một tri thức con người như thế sẽ không cao hơn tri thức của thú vật bao nhiêu.

Thứ ba, vấn đề Thượng Đế có hay không thật ra không lệ thuộc vào vấn đề có hay không một hệ thống vũ trụ khác với vũ trụ vật chất này. Vì như đã nói trên[3], để trả lời câu hỏi tột cùng của triết học 'Tại sao lại có cái gì thay vì không có gì cả, bất luận nó là cái gì và bất luận nó có như thế nào?', trí năng con người đòi hỏi phải có sự hiện hữu của Thượng Đế xét như là một thực tại mà yếu tính hay bản tính là hiện hữu, là thực tại hiện hữu cách tất yếu do tự bản thân (hiện hữu tất yếu tự tại). Cho nên hễ có bất cứ cái gì, dù nó là vật chất hay vô chất thể, dù nó chỉ là một cá thể riêng biệt hay cả một tập hợp, một hệ thống, nhưng nếu cái đó có không phải cách tất yếu nội tại, thì nó buộc phải giả thiết sự hiện hữu của Thượng Đế để giải thích sự hiện hữu bất tất của nó.

2. Mâu thuẫn về tương quan giữa vũ trụ vật chất và thế giới của sự giác ngộ, giữa khả năng của con người và công cụ của nhà Phật

Như vừa nói trên, theo tác giả 'con người dù tưởng tượng hoặc thông minh thế nào chăng nữa cũng vẫn thuộc hệ thống vũ trụ [vật chất] này' và do đó 'chưa có đủ công cụ cần thiết để có thể tìm hiểu về Thượng Đế có thật hay không', vì nếu Ngài có Ngài ắt phải thuộc một hệ thống vũ trụ khác với thế giới của con người. Nếu lập luận này của tác giả đúng, thì phải đánh giá thế nào về cái 'ví dụ khá hay' mà tác giả đưa ra ở đoạn cuối 'về một vũ trụ khác, thế giới quan khác là sự giác ngộ của đạo Phật'? Cái ví dụ đó hay dở thế nào chưa biết, nhưng theo lập luận đang nói tác giả phải kết luận rằng có hay không có 'một vũ trụ khác, thế giới quan khác là sự giác ngộ của đạo Phật' con người vẫn không thể biết được. Thật vậy, làm sao mà con người biết được nó trong khi con người thuộc về một hệ thống vũ trụ khác với nó. Ngay cả lập luận chữa chạy gỡ gạc rằng 'sự giác ngộ của nhà Phật là không dựa trên nhận thức (bằng con đường lìa tri kiến)' cũng không cứu được tác giả khỏi tự mâu thuẫn. Thật vậy: bỏ qua vấn đề phải chăng sự giác ngộ của nhà Phật không thật sự dựa trên nhận thức, và nhận thức phải hiểu theo nghĩa nào, chỉ cần tác giả thừa nhận trong con người có khả năng giác ngộ, có khả năng đạt đến cái thế giới giác ngộ là cái vũ trụ khác với vũ trụ vật chất, thì bất luận cái khả năng đó là gì (là nhận thức, là con đường 'lìa tri kiến', hay là bất cứ cái gì), sự kiện trong con người có khả năng đó cũng đủ chứng tỏ rằng con người không hẳn, không hoàn toàn thuộc về hệ thống vũ trụ vật chất này. Nói cách khác, tác giả lại tự mâu thuẫn với tiền đề của lập luận đang nói: con người chỉ thuộc về vũ trụ vật chất nên không có khả năng đạt đến một vũ trụ nào khác với nó. Chấp nhận tiền đề này thì thực tại tính của sự giác ngộ không tránh khỏi bị hoài nghi, bị đặt thành vấn đề, còn trái lại khẳng định thực tại tính này thì lại phải phủ nhận cái tiền đề đang nói.

Theo tác giả 'một hệ thống khác ngoài hệ thống vật chất của vũ trụ này có hay không,không biết, thế nhưng với công cụ mà Phật giáo đem lại chúng ta đã có thể hình dung về một tâm thế của con người khi có thể sánh ngang với Thượng Đế', nhưng đúng lý mà nói thì trước khi kết luận về giá trị của 'công cụ mà Phật giáo đem lại', tác giả cần cho biết: vậy cái công cụ đó, cái khả năng giác ngộ của nhà Phật thuộc hay không thuộc về hệ thống vật chất của vũ trụ này? Theo tác giả 'vấn đề là chiếc thang nào, công cụ nào?', ý tác giả chắc muốn nói vấn đề là chiếc thang, công cụ thuộc về hệ thống nào, thuộc về thế giới vật chất này hay thuộc về hệ thống khác với nó và nhờ đó có khả năng thích hợp để biết những gì thuộc thế giới khác đó? Tác giả đã không trả lời vấn đề then chốt đó là khả năng giác ngộ của nhà Phật là công cụ nào, chiếc thang nào, thuộc về hệ thống vũ trụ vật chất này hay thuộc một thế giới khác. Mà làm sao trả lời được nếu tác giả vẫn suy tư trong logique đang nói của mình. Thật vậy, nếu đã không biết có hay không có một hệ thống khác ngoài hệ thống vật chất của vũ trụ này thì làm sao biết được công cụ của nhà Phật thuộc về hệ thống nào khác hơn là vũ trụ vật chất này. Có lẽ có lý mà trả lời rằng công cụ của nhà Phật cũng thuộc về 'hệ thống vật chất của vũ trụ này', nhưng nếu vậy thì công cụ này cũng chẳng có ích lợi gì, bởi vì lại là 'lấy thước đo bầu trời'. Thật vậy, làm sao một công cụ thuộc về thế giới vật chất có thể giúp con người sánh ngang với Thượng Đế là Đấng mà theo tác giả thuộc về một thế giới khác, thuộc về 'vũ trụ phi vật chất của các thần linh'?

3. Trí năng con người 'ở trong' mà không ở trong hệ thống vũ trụ vật chất

Tác giả Hồ Trung Tú nhận xét: 'Lý thuyết toán Hệ thống khẳng định, bản thân một hệ thống không thể tự phát hiện ra mâu thuẫn'. Nhưng đó là mâu thuẫn gì? Nếu đó là mâu thuẫn nội tại thì mâu thuẫn đó không thể phát hiện được lý do bởi vì nó không có. Mỗi hệ thống toán học có logique riêng của nó, theo đó thì không thể có mâu thuẫn giữa các định lý thuộc cùng một hệ thống, không thể có mâu thuẫn giữa các định đề, các tiền đề mà hệ thống giả thiết, và các định lý suy diễn từ chúng. Bản thân của một hệ thống toán học không thể có mâu thuẫn nội tại, bằng không thì nó không thể là một hệ thống toán học. Không có mâu thuẫn nội tại, nhưng có thể có mâu thuẫn giữa hai hệ thống toán học, và đúng là suy tư trong khuôn khổ của một hệ thống không thể nào phát hiện mâu thuẫn đó. Nhưng không có gì cấm trí năng con người suy tư ngoài khuôn khổ một hệ thống toán học, bỏ khuôn khổ của hệ thống này để suy tư theo khuôn khổ của hệ thống kia. Trí năng của nhà toán học nghĩ ra hệ thống này, hệ thống kia, đương nhiên có khả năng vượt lên trên các hệ thống mà mình lập ra. Lại càng không có gì cấm trí năng của triết gia suy tư ở trên mọi khuôn khổ của khoa học, kể cả toán học, để khám phá ra những nguyên lý nền tảng nhất của mọi suy tư khoa học. Nói sơ lược như trên là để thấy dùng logique của toán học để đánh giá suy tư triết học, chưa nói đến niềm tin tôn giáo, không những là đi trật đường rail mà còn đang lấy cái thấp để đo lường cái cao hơn trong lãnh vực tri thức khả niệm.

Rồi chưa kể đâu là sự tương xứng khi so sánh một hệ thống toán học (hay bất kỳ hệ thống toán học nào) với hệ thống vũ trụ vật chất này? Chắc chắn có những tương xứng, nhưng bất tương xứng lại càng nhiều hơn. Càng vô lý hơn khi cho rằng trí năng con người suy tư khi đang ở trong vũ trụ vật chất này cũng giống như trí năng của nhà toán học khi chọn suy tư trong khuôn khổ của một hệ thống toán. Chữ 'trong' trong hai trường hợp đồng nghĩa thì ít, nhưng dị nghĩa thì nhiều. Khi chọn suy tư trong khuôn khổ của một hệ thống toán nhà toán học đã giới hạn suy luận của mình theo logique của hệ thống đó, nhưng từ sự kiện con người đang ở trong vũ trụ vật chất không có thể kết luận rằng suy tư của trí năng con người cũng giống như một hoạt động vật chất trong cái vũ trụ đó, nghĩa là cũng lệ thuộc và bị giới hạn trong hệ thống các định luật vật chất mà theo đó cái vũ trụ đó tồn tại và vận hành. Chỉ có thể kết luận như vậy khi tiên thiên (a priori) chấp nhận lập trường duy vật mà cho rằng trí năng của con người cũng chỉ là một thực tại vật chất.

Mặc dù ở đây không phải là chỗ dùng lý luận triết học để chứng minh trí năng con người theo yếu tính là khả năng thuần túy tinh thần, là khả năng vô chất thể[4], nhưng không thể không khẳng định rằng con người vừa 'thuộc về hệ thống vũ trụ này' vừa không thuộc về nó. Có gì đó trong con người vượt lên trên vũ trụ vật chất: cái đó là trí năng hay khả năng tri thức khả niệm. Bên cạnh có thân xác, một thực tại vật chất, con người còn có gì đó mà theo bản tính không bị giới hạn vào bất kỳ định luật nào của thế giới vật chất: cái đó là linh hồn hay một thứ bản thể mà tri năng là khả năng của nó. Nếu con người chỉ thuần túy là một hữu thể vật chất, chỉ thuần túy là một động vật dù là động vật cao nhất, thì không đợi đến vấn đề Thượng Đế có hay không, mà ngay cả tri thức khoa học có hay không đã là một vấn đề. Trong thế giới động vật chỉ có mỗi một mình con người là có tri thức khoa học, có khả năng làm khoa học. Chính vì con người còn là gì khác hơn là một động vật cho nên có thể 'lấy thước đo bầu trời'. Để 'đo bầu trời', con người không phải đi tìm ở đâu khác 'chiếc thang nào', 'công cụ nào', 'thước đo' nào. Con người đã có sẵn trong mình cái trí năng, cái khả năng mà Thượng Đế đã ban khi tạo dựng con người. Nhà khoa học chỉ ở trên trái đất mà vẫn tính được những khoảng cách trong 'bầu trời', những khoảng cách phải đo bằng hàng trăm, hàng ngàn năm theo vận tốc ánh sáng, mặc dù con người không có cái thước đo nào dài quá khoảng cách ánh sáng đi trong một giây. Chuyện con người có thể 'lấy thước đo bầu trời' không chỉ có thật theo nghĩa đen mà còn theo cả nghĩa bóng!!!

4. Vật chất không đối nghịch, loại trừ tinh thần nhưng tất yếu cần đến tinh thần [5]

Tác giả có lý khi đặt câu hỏi: 'Liệu con người đã có một ý niệm nào về một vũ trụ phi vật chất chưa?' Mọi tri thức tự nhiên của con người, kể cả tri thức khả niệm (connaissance intellectuelle), đều khởi sự từ tri thức giác quan/khả giác (connaissance sensible) và phần nào lệ thuộc vào nó. Thế mà đối tượng thích hợp của tri thức giác quan là các thực tại vật chất khả giác, cho nên phải rất cẩn thận, bằng không khi suy tưởng về các thực tại tinh thần, vô chất thể, người ta sẽ dễ dàng sa vào cạm bẫy tưởng tượng chúng theo các phạm trù thực ra chỉ áp dụng cho các thực tại vật chất khả giác. Chính vì hiểu tinh thần theo kiểu vật chất mà người ta mới xem tinh thần là thực tại đối nghịch, loại trừ vật chất. Nói cách khác, chính vì vô tình đã đặt tinh thần trên cùng một bình diện với vật chất, vô tình đã xếp cái trước trong cùng một lãnh vực với cái sau, thì người ta mới thấy hai thực tại đó thật sự đối nghịch, loại trừ nhau. Nhiều quan niệm triết học thuộc lập trường nhất nguyên (monisme), duy vật (matérialisme) lẫn duy tâm (idéalisme), hoặc lập trường nhị nguyên (dualisme) đã không tránh được cạm bẫy này - đúng là hai quan niệm đối nghịch nhau có thể là hai mặt của cùng một sai lầm. Xem ra tác giả cũng không tránh được cạm bẫy nói trên khi cho rằng rằng tinh thần không có trong vật chất, cho nên nếu con người đang ở trong vũ trụ vật chất, thì không chỉ trong con người không thể có gì là tinh thần, là vô chất thể[6], mà con người còn không thể có cách nào tiếp cận được với vũ trụ hay thế giới tinh thần. Nhưng chắc gì một cái không thể ở trong một hệ thống vật chất thì cái đó là tinh thần? Trái lại có lý mà nghĩ rằng cái đó cũng có thể là một thực tại vật chất khác, một hệ thống vật chất khác, vì một thực tại vật chất ở một nơi bằng cách chiếm chỗ nơi đó, nên một thực tại vật chất thứ hai không thể có cùng một nơi với cái thứ nhất trừ phi trong cái không gian đó vẫn còn có chỗ chưa bị chiếm và cái thứ hai có khả năng vào trong đó được. Đáng lẽ tác giả phải hiểu rằng chính vì tinh thần và vật chất thuộc hai bình diện, hai lãnh vực khác nhau (xét về mặt siêu hình học, chứ không phải về mặt vật lý học), nên một thực tại tinh thần có thể ở trong một thực tại vật chất mà không giống như cái sau ở trong không gian hay ở trong một cái vật chất khác?

Chính thật ra không thể có thực tại khả giác nào là vật chất thuần túy vì vật chất thuần túy hay chất thể đệ nhất (materia prima) không thể hiện hữu một mình được (nó chỉ thực sự hiện hữu như là thành phần của một cái khác). Không những thế, vật chất thuần túy thì bất khả tri, không thể là đối tượng của tri thức (kể cả tri thức giác quan). Cho nên theo triết học Công Giáo, bất cứ cái gì khả giác, dù thường gọi là những cái thuộc thế giới vật chất, đều tất yếu có yếu tố khả tri và do đó mang tính tinh thần ít nhiều trong nó rồi, nghĩa là được xác định bởi các mô thức (forma/forme) nào đó rồi. Để chỉ về mô thức của một thực tại khả giác, triết học Hy Lạp không chỉ dùng danh từ 'morphê' mà đặc biệt còn dùng danh từ 'eidos' (idea, idée), tức là dùng chung một danh từ cho cả mô thức của một thực tại khả giác bên ngoài và ý tưởng trong trí năng con người về thực tại đó, mà ý tưởng là một yếu tố tinh thần, một yếu tố vô chất thể. Thật ra, mọi thực tại khả giác đều có mức lượng (bao gồm chiều hướng, trương độ, vv...), một mô thức tùy thể mang tính tinh thần thấp nhất, nhưng thích hợp và tất yếu gắn liền với mỗi bản thể vật chất. Nhờ mô thức lượng (quantitas/quantité) mà mỗi bản thể vật chất là một toàn thể được phân chia thành những thành phần phân biệt, vừa được sắp xếp theo những trật tự hay vị trí nhất định đối với nhau xét theo bên trong bản thể đó, vừa lan ra, chiếm chỗ trong tương quan với không gian bên ngoài bản thể đó. Tinh thần ở trong mỗi thực tại khả giác và cụ thể không chỉ như là những tùy thể (đi theo, đi liền với một bản thể, cách tất yếu hay không) như mức lượng và phẩm tính (qualitas/qualité), mà còn là thành phần căn bản cấu thành chính yếu tính hay bản thể của nó. Mỗi thực tại khả giác và cụ thể tất yếu phải là sự hiệp nhất từ hai nguyên lý căn bản: nguyên lý mang tính tinh thần là mô thức bản thể (forma substantialis/forme substantielle) và nguyên lý mang tính vật chất là chất thể (materia, matière) mà nền tảng sau cùng là chất thể đệ nhất. Nguyên lý trước kết hiệp với nguyên lý sau để xác định cái thực tại hình thành từ sự hiệp nhất đó là cái gì, là hữu thể thuộc loại nào, phân biệt với những loại hữu thể khác, và cũng nhờ vậy mà xác định cái sau, làm cho nó trở nên thân thể (corpus/corps) hay một toàn thể vật chất của cái thực tại cụ thể và khả giác đang nói (trong trường hợp những loại thực tại khả giác có sự sống thì nguyên lý sau còn được gọi là xác). Nguyên lý chất thể kết hiệp với nguyên lý mô thức để giới hạn cái thực tại hình thành từ sự hiệp nhất của chúng thành một cá thể phân biệt với các cá thể khác trong cùng một loại hữu thể như nó, và cũng vì vậy mà giới hạn cái trước, cá thể hóa nó thành mô thức bản thể của một thực tại khả giác và cụ thể (trong trường hợp những loại thực tại khả giác có sự sống thì nguyên lý trước thường được gọi là hồn). Trong lúc vật chất thuần túy không thể hiện hữu một mình được và tất yếu cần đến tinh thần, thì tinh thần thuần túy lại được, và đó là các tinh thần mà sự hoàn hảo của nó không cần nó phải kết hợp với bất kỳ chất thể nào, đó là các tinh thần theo bản tính không có xác. Các tinh thần đó là các mô thức bản thể lập hữu (esse per se et in se) như những thực tại toàn vẹn (nên mỗi loại chỉ được thể hiện nơi một thực tại cụ thể duy nhất). Các thiên sứ hay thiên thần của Kitô giáo (bao gồm cả các thiên sứ phản loạn tức lũ quỷ) là các tinh thần thuần túy như thế. Hồn con người là tinh thần thuần túy nhưng không toàn vẹn, nên bản tính kém hơn các thiên sứ. Linh hồn là một mô thức bản thể lập hữu nhưng không phải như một thực tại toàn vẹn, mà như một nguyên lý thành phần của bản thể người hay nhân tính. Tuy thuần túy vô chất trong chính nó, nhưng linh hồn theo bản tính vẫn cần phải mô hiệp với một chất thể tương xứng để hình thành nên con người cụ thể.

5. Tinh thần hiện hữu trong vật chất theo cách siêu việt

Để thực sự hiện hữu cũng như để khả tri, mọi thực tại cụ thể và khả giác của thế giới vật chất tất yếu cần có các yếu tố tinh thần trong nó. Những gì vừa nói trên, không những cho thấy rõ như thế, mà còn ám chỉ rằng tinh thần ở trong vật chất không phải như vật chất ở trong vật chất nhưng theo một cách siêu việt. Càng lên cao trong lãnh vực hay bình diện tinh thần, thì tinh thần ở trong vật chất bằng cách càng siêu việt những giới hạn của nó, càng ít lệ thuộc vào nó, nhưng trái lại khiến nó càng lệ thuộc vào tinh thần.

Đối với một thực tại cụ thể và khả giác, thì tinh thần có thể là toàn thể của một yếu tính nào đó (totus essentiae) có trong thực tại đó. Cái tinh thần này ở trong một thực tại cụ thể và khả giác mà không cần (và thật sự là vậy) tương xứng với toàn thể của lượng (totus quantitatis) ở nơi mà thực tại đó chiếm chỗ. Vì thế mà bản thể hay toàn thể của cái yếu tính định nghĩa một thực tại cụ thể và khả giác, chẳng hạn như bản thể của một tấm bánh, thì ở dưới các chiều kích của thực tại đó mà không giống như ở trong một nơi, nhưng theo cách bản thể, bằng không thì tùy theo chiều này, hướng nọ, vị trí kia mà không những có những thay đổi này nọ đối với cùng một tấm bánh, mà ngay cả chính bánh cũng sẽ không còn thực sự là bánh nữa. Ngay cả toàn thể yếu tính của một mô thức phẩm, chẳng hạn như toàn thể yếu tính trắng trên bề mặt của tấm bánh trắng, có trọn vẹn trong toàn thể lượng (lượng mà một mô thức phẩm có không phải cách tất yếu) cũng như trong mỗi phần mà toàn thể lượng phân chia ra: mỗi phần được phân ra từ bề mặt trắng của tấm bánh cũng trắng như toàn bộ bề mặt.

Kế đến là hồn con người, một thực tại tinh thần đúng nghĩa và ở trên mọi thứ tinh thần khác có trong các thực tại cụ thể và khả giác khác mà không phải là con người. Là một thứ bản thể tinh thần như đã nói, nên linh hồn bất khả phân, không có thành phần dù của lượng (pars quantitatis) hay của yếu tính (pars essentiae)[7]. Vì không cấu thành bởi bất cứ loại thành phần nào, nên đúng nghĩa mà nói linh hồn không phải là toàn thể nhờ trong chính nó (per se) hay tùy theo cái khác (per accidens), mà chỉ là toàn thể theo nghĩa nó là thực tại có mọi hoàn hảo theo định nghĩa của nó. Linh hồn ở trong mỗi thành phần của thân xác với trọn vẹn yếu tính của linh hồn. Rồi cũng phải hiểu rằng linh hồn ở trong thân xác không giống như một thực tại vật chất bị bao hàm bởi cái mà nó ở trong: linh hồn ở trong thân xác bằng cách bao hàm nó chứ không phải bị nó bao hàm.

Sau cùng đến các thụ tạo chỉ là tinh thần thuần túy, tức là các bản thể không có xác, thì các thụ tạo như thế lại càng siêu việt vật chất hơn cả linh hồn. Một tinh thần thuần túy không ở trong một nơi bằng sự tiếp xúc nào theo lượng chiều hướng, không chiếm chỗ nơi đó (nên không loại trừ bất cứ bản thể vật chất nào ra khỏi nơi đó), không bị đo lường xung quanh bởi nơi đó (circumscriptive), không bị bao hàm trong nơi đó, nhưng trái lại bao hàm nơi đó bằng quyền năng mà tinh thần ấy tác động lên nơi đó theo bất cứ cách nào. Một thực tại vật chất chẳng hạn như thân xác chỉ ở trong một nơi bằng sự tương xứng của lượng mang tính chiều hướng thuộc thân xác đó đối với lượng của nơi đó, do đó chiếm chỗ nơi đó (loại trừ khỏi nơi đó một số thân xác nào khác) và được đo lường bởi nơi đó.

(còn tiếp)

Lm. Phaolô Trần Xuân Tâm

-------------------------------------------------------------------------------

Bài liên quan:

Vấn đề 'Thượng Đế' hay Thiên Chúa (1)

Vấn đề 'Thượng Đế' hay Thiên Chúa (2)

Vấn đề 'Thượng Đế' hay Thiên Chúa (3)

Chú thích

[1] Hay nói cách hình ảnh theo tác giả đó là 'chiếc thang', 'công cụ cần thiết'.

[2] Xem III.3.

[3] Xem I.4.

[4] Tôi chủ ý tránh dùng từ 'phi vật chất' của tác giả vì từ này dễ hàm ý đối nghịch, loại trừ vật chất, trong lúc đó tinh thần không nhất thiết phải vậy (xem ở số tiếp theo III.4).

[5] Trong lúc giáo lý đức Tin Công Giáo chỉ có một, nhưng quan niệm và lý luận triết học mà trí thức Công Giáo dùng để trình bày, giải thích, và bảo vệ đức Tin đó có thể thuộc về những trường phái triết học khác nhau, dù để thích hợp với đức Tin có những điểm chung căn bản giữa chúng, cũng như có những pham vi giới hạn chung cho chúng. Về phần tôi, tôi chọn triết học của thánh Tô-ma A-qui-nô (Thomas d'Aquin) để trình bày và giải thích các mục III.4,5,6. Chính xác hơn cho III.5 và 6, xin đối chiếu: Thánh Tô-ma A-qui-nô. Summa Theologiae. I, q.8, q.52; III, q.76, a.5.

[6] Tác giả không nói thẳng ra như vậy nhưng theo logique lập luận của tác giả thì phải kết luận như vậy.

[7] Thành phần của yếu tính giống như chất thể và mô thức của một thực tại cụ thể về khả giác, hay như chủng loại chung (genus) và đặc tính (differentia) để xác định một loài riêng (species) trong chủng loại chung đó.