Vấn đề 'Thượng Đế' hay Thiên Chúa (5)
(phần cuối)
6. Thượng Đế ở trong mọi sự theo cách siêu việt mà chỉ mình Ngài mới có
Thượng Đế là Đấng từ hư vô (hoàn toàn không có gì cả) mà tạo dựng mọi sự, tinh thần lẫn vật chất, nên Ngài ở trong chúng theo cách mà chỉ riêng mình Ngài mới có, trỗi vượt mọi cách thức mà các tinh thần thụ tạo có thể hiện hữu trong vật chất. Giả như cho dù không có thực tại nào khác ngoài Thượng Đế và trong trường hợp đó không còn có vấn đề Ngài có ở trong chúng hay không, ở trong chúng như thế nào, thì Ngài vẫn có cách hoàn hảo không hơn, không kém. Nhưng sự thật là Thượng Đế đã tạo dựng nên các thực tại khác, nên mới có chuyện Ngài ở trong mọi thực tại mà Ngài tạo dựng, dĩ nhiên không phải như thành phần của yếu tính (pars essentiae) nơi chúng (không giống như linh hồn ở trong mỗi người như là mô thức của nhân tính), cũng không phải như một thứ tùy thể (accidens) của chúng (không giống như cả vũ trụ vật chất bao la ở trong con người khi con người nghĩ về nó). Mặc dầu cách thức mà Thượng Đế ở trong mọi thực tại khác vượt quá trí hiểu của con người, trí năng vẫn có thể khẳng định được vài điểm như sau về siêu việt tính của cách đó.
(1) Thượng Đế ở trong mọi thực tại Ngài tạo dựng vì Ngài trực tiếp tác động trên tất cả cũng như mỗi một thực tại, không chỉ nhờ quyền năng của Ngài bao trùm mỗi và mọi cái (không thực tại nào vượt ra ngoài quyền năng của Ngài), cũng không chỉ nhờ trí năng của Ngài bao quát và thấu triệt mỗi và mọi cái (không gì có thể ẩn giấu mà trái lại phơi bày rõ ràng trọn vẹn trước trí năng của Ngài), mà nhất là còn nhờ bản thể hay yếu tính của Ngài, vì tất yếu tự hữu (là hiện hữu tất yếu nội tại), nên là nguyên nhân trực tiếp của mỗi và mọi thực tại khác bao lâu mà chúng còn có. Bao lâu mà một thực tại thụ tạo có hay hiện hữu (habet esse), thì tất yếu bấy lâu Thượng Đế hiện diện nơi nó theo như cách thức mà nó có (secundum modum quo esse habet). Bởi vì có hay hiện hữu (esse) là điều sâu thẳm nhất và nền tảng nhất trong mỗi thực tại, cho nên Thượng Đế không những ở trong mọi thực tại mà ở trong chúng cách sâu xa nhất.
(2) Thượng Đế ở trong mọi thực tại thụ tạo, nên dĩ nhiên Ngài cũng ở trong mọi nơi chốn (locus) của vũ trụ vật chất, là thụ tạo của Ngài. Vì nơi chốn cũng là một thứ thực tại cho nên Thượng Đế ở trong một nơi bằng cách trực tiếp cho nó hiện hữu và khả năng nơi chốn, cũng như bằng cách trung gian qua bản thể vật chất chiếm chỗ nơi đó. Như thế theo cách trung gian này Ngài ở một nơi mà không đích thân chiếm chỗ nơi đó (không giống như một bản thể vật chất ở nơi nào thì chiếm chỗ nơi đó, loại trừ khỏi nơi đó các bản thể vật chất khác), nhưng ban hiện hữu cho cái bản thể vật chất đang chiếm chỗ nơi đó.
(3) Thượng Đế ở khắp mọi nơi trong vũ trụ vật chất mà không bị bao hàm trong cái vũ trụ đó hay trong bất kỳ nơi nào trong nó, trái lại Ngài bao hàm vũ trụ này và mọi nơi trong nó bằng quyền năng của Ngài áp dụng trên cả vũ trụ này và trên mọi nơi trong nó (không giống như các tinh thần thuần túy được Ngài tạo dựng, tuy không bị bao hàm trong một nơi nào cả hay bị đo lường bởi nó, nhưng mỗi tinh thần thuần túy chỉ có thể ở trong một nơi nhất định vào một lúc nhất định vì quyền năng của nó mỗi lúc chỉ có thể tác động lên một nơi nhất định thôi).
(4) Thượng Đế ở khắp nơi trong vũ trụ vật chất này cách tiên quyết (primo), vì Ngài ở khắp nơi không phải theo thành phần của hữu thể Ngài (vì Ngài tuyệt đối đơn thuần, hoàn toàn bất khả phân, không thể có thành phần) nhưng theo chính trọn vẹn yếu tính hay bản thể Ngài (không giống như toàn thể vũ trụ ở khắp nơi nhưng chỉ theo thành phần của nó chứ không trọn vẹn ở mỗi nơi). Ngài cũng ở khắp mọi nơi cách tuyệt đối, nghĩa là nhờ qua chính mình Ngài (per se), chứ không giả thiết hay nhờ vào cái gì khác (không giống như một bản thể vật chất có thể ở khắp nơi trong vũ trụ nhưng chỉ với điều kiện là trong toàn bộ không gian của vũ trụ không có bản thể vật chất nào khác).
IV. 'Thượng Đế' của Phật Giáo hay Thiên Chúa của Kitô Giáo? 'ngang tầm' với 'Thượng Đế' hay trở nên con cái của Thiên Chúa?
Như người đọc đã thấy những công sức của tác giả Hồ Trung Tú từ đầu bài cho đến gần cuối biện minh cho 'rượu cũ' của các thần học gia thật ra chỉ là một thứ đòn bẩy giúp làm trội hẳn lập luận của chính tác giả nhằm tương đối hóa, vô hiệu hóa cả 'rượu cũ' lẫn 'rượu mới'. Nhưng đến đoạn kết của bài viết thì người đọc lại thấy chính lập luận này lại trở thành một thứ đòn bẩy mới cho 'cách tiếp cận của nhà Phật', bảo bối sau cùng của một Phật tử như tác giả. Trong lúc lập luận của chính tác giả nhằm vô hiệu hóa mọi lý luận của cả 'rượu cũ' lẫn 'rượu mới', cho thấy cả hai phía không có khả năng thích hợp để chứng minh có hay không có Thượng Đế, thì 'cách tiếp cận của nhà Phật' còn đi xa hơn nữa: cho dù chứng minh được có hay không có Thượng Đế, thì đối với Phật Giáo chính Thượng Đế không còn quan trọng mấy, vì Phật Giáo có khả năng làm cho con người thành ngang hàng với Thượng Đế nên không còn cần phải tôn thờ Ngài nữa. Ở phần trước tôi đã chỉ ra mâu thuẫn nội tại của tác giả giữa lập luận của chính tác giả và giá trị mà tác giả gán cho 'cách tiếp cận của nhà Phật', cho 'công cụ' của Phật Giáo (xem III.2). Ở phần sau cùng này tôi sẽ nhắm vào những vấn đề hay khó khăn hàm chứa trong cách tiếp cận này[1]. Thật vậy, nếu hiểu đúng giáo lý nhà Phật về vô ngã, thì người ta sẽ thấy 'cách tiếp cận của nhà Phật' không có hy vọng mấy đối với đa số các Phật tử nên nó không 'khá hay' như tác giả nghĩ. Còn nếu tin và hiểu Thượng Đế không phải theo ý nghĩa mà Phật Giáo gán cho Ngài, nhưng theo mặc khải của Ngài được Kitô giáo tiếp nhận trong đức Tin, thì một cách tiếp cận như kiểu Phật Giáo không những vô lý, vô luân, mà còn không ăn nhập với với những gì Kitô giáo tuyên xưng về tình yêu thương của Thượng Đế đối với con người.
1. Làm gì có 'mình' để mà 'phải biết cách kéo mình lên ngang tầm' với Thượng Đế?
Theo tác giả, thì đối với Phật Giáo vấn đề có hay không có Thượng Đế không quan trọng, vấn đề là 'nếu Thượng Đế có... thì ta làm gì mới là quan trọng. Ta sụp lạy ư ? Tinh thần đạo Phật thì bảo lạy hoặc khúm núm trước bất cứ ai, cho dù đó là Thượng Đế, thì không đáng là người, hãy choàng vai Thượng Đế mà đi uống cà phê hoặc ngồi uống trà ngang hàng với ổng mà không một chút áy náy, mới là điều quan trọng cần đạt tới'. Nói cách khác, vấn đề đối với Phật Giáo đó là nếu có Thương Đế thì con người 'phải biết cách kéo mình lên ngang tầm' với Ngài. Nói thế đương nhiên phải giả thiết là có 'mình' rồi thì mới có chuyện làm sao phải 'kéo mình' lên ngang tầm với Thượng Đế.
Nhưng theo đức Phật dạy thì làm gì có 'mình' hay 'tôi', làm gì có bản ngã cá nhân (atta/atman). Nhiều Phật tử trong thực tế khi nói đến chuyện luân hồi, tái sinh 'của mình', phải lo nghĩ đến các kiếp sau 'của mình' (hay như tác giả ở đây nói đến chuyện phải biết kéo 'mình' lên ngang tầm với Thượng Đế) vv... đã vô tình gây hiểu lầm về giáo lý căn bản của đức Phật về 'vô ngã' (anatta/anatman). Vô ngã là một trong những điểm đồng thuận căn bản chung cho hầu hết mọi trường phái Phật Giáo (Theravada cũng như Mahayana). Không những bản ngã đồng nhất và trường tồn của mỗi người không thể là một trong các uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) cũng như tập hợp của cả ngũ uẩn (skandha), mà thật ra một thứ bản ngã như thế cũng không thể có. Cái gọi là 'tôi' có ý nghĩa quy ước hơn là thực tại tính. 'Tôi' nếu có họa chăng chỉ là một thứ trung tâm tạm thời hiệp nhất mọi hành vi tinh thần trong kiếp hiện tại ('tôi' chỉ thuần túy xét theo trách nhiệm luân lý của những gì làm trong kiếp hiện tại, chứ không phải là một thực tại nền tảng, một chủ thể siêu hình , một bản thể có trí năng và tự do). Những hành vi của 'tôi' hiện tại vừa mang những vết tích của những hành vi tham, sân, si hay nghiệp của kiếp trước (karma), phần nào như là hậu quả của chúng, vừa ảnh hưởng lên việc tái sinh ở kiếp sau, phần nào như là nguyên nhân của nó. Có sự liên tục giữa các kiếp, tức sự liên kết nhân quả luân lý giữa chúng, như một thứ dòng chảy không ngừng và không có khởi đầu của các karma và chỉ chấm dứt với sự giác ngộ[2]. Nhưng chỉ có thế thôi, không có chuyện cùng một cái 'tôi' xuyên suốt mọi kiếp, không có một bản ngã đồng nhất là chủ thể siêu hình của mọi hành vi kiếp này cũng như kiếp trước lẫn kiếp sau, hay sau sau nữa. Nói cách khác 'tôi' của kiếp trước khi chết là hết, là chấm dứt hẳn, còn 'tôi' tái sinh trong kiếp này, tuy theo luật nhân quả chịu ảnh hưởng của các hành vi kiếp trước, cũng vẫn không phải là 'tôi' của kiếp trước. Rồi cũng vậy 'tôi' chết đi của kiếp này và cái tái sinh ở kiếp sau là hai người (nếu cái tái sinh kiếp sau là người mà không phải là thú vật) hay hai cá thể khác nhau, cho dù cái tái sinh ở kiếp sau chịu ảnh hưởng của những gì mà 'tôi' của kiếp này làm. Như thế một là tôi thành công kéo mình lên ngang tầm với Thượng Đế trong kiếp này, hai là tôi sẽ không bao giờ có thể làm được điều đó, bởi vì khi kiếp này kết thúc thì tôi cũng chấm dứt hẳn, còn người (hay thú vật) tái sinh ở kiếp sau do ảnh hưởng của những gì tôi làm trong kiếp này vẫn không thể nào là tôi nhưng là một người (hay một sinh vật) hoàn toàn khác. Cho nên chuyện người hay thú vật tái sinh ở kiếp sau có thành công trở nên ngang hàng với Thượng Đế hay không thật ra chẳng có ăn nhằm gì với 'tôi' của kiếp này cả: chuyện đó không còn quan trọng với tôi nữa.
Nhưng không phải chỉ có thế: 'vô ngã' của nhà Phật có hậu quả còn đi xa hơn chuyện trở nên ngang hàng với Thượng Đế. Vấn đề quan trọng nhất, vấn đề tối ưu của một Phật tử là làm sao giác ngộ để thoát khỏi vòng tái sinh, luân hồi bất tận. Nhưng trừ phi 'tôi' của kiếp hiện tại tu thành chánh quả, đạt được sự giác ngộ để thoát khỏi vòng luân hồi trong kiếp này, bằng không tôi mất hết hy vọng. Thật vậy, bởi vì cái tái sinh trong kiếp sau do nghiệp tôi làm trong kiếp này không thể nào là tôi, nhưng là một người khác tôi hay một cá thể khác tôi, cho nên người đó hay đúng ra bất cứ người nào, thú vật nào ở bất cứ kiếp nào khác, vì không phải là tôi, nên có giác ngộ được hay không cũng chẳng quan trọng gì với tôi cả, vì một người, một cá thể không phải là tôi giác ngộ chứ đâu có phải tôi giác ngộ. Mà hầu chắc tôi mất hết hy vọng thật, bởi vì theo Phật Giáo đại đa số chúng sinh phải cần rất nhiều kiếp mới có thể giác ngộ, chứ rất khó có ai có thể giác ngộ ngay trong một kiếp[3].
2. Dù có 'kéo mình lên ngang tầm' với 'Thượng Đế', thì đó cũng không phải là chuyện quan trọng vì ngài cũng chỉ là vị Thượng Đế của Phật giáo
Đa phần những gì tác giả Hồ Trung Tú hiểu về danh từ Thượng Đế, dù có đủ thứ hạn chế, cũng xuất xứ từ Kitô giáo. Đối với một Thượng Đế siêu việt theo nghĩa Do Thái và Kitô giáo, nhà Phật vừa không thể nghĩ ra được, vừa tiên thiên (a priori) phủ nhận chiếu theo quan niệm của mình về thực tại. Thật vậy, không những khẳng định quá trình luân hồi u minh không có khởi đầu mà Phật Giáo, theo quan niệm Ấn Độ cổ truyền, còn chủ trương các chu kỳ/các vòng diễn biến (samsara) của vũ trụ như chuỗi vô tận của những tiến hóa, sụp đổ và phân tán. Phật Giáo không thấy cần đến mà còn phủ nhận một Thượng Đế tạo dựng mọi sự từ hư vô. Đối với sự hiện hữu của bất kỳ thực tại nào, cũng như đối với cách thức hiện hữu của nó, Phật Giáo dừng lại ở những nguyên nhân tự nhiên của nó, từ chối đi xa hơn mà đặt những câu hỏi siêu hình tận căn trước tiên là 'Tại sao lại có cái gì thay vì không có gì hết cả?' rồi kế đến 'Nếu có, thì tại sao cái có phải có thế như thế này mà không có như thế kia?'.
Rốt cuộc nếu có vị Thượng Đế nào mà ý nghĩa của danh từ 'Thượng Đế' có thể được Phật Giáo chấp nhận, thì đó chính là thần Bà-la-môn (Brahma) của Ấn Giáo cổ truyền, một vị thần mà siêu việt tính thật sự của ngài đối với với Phật Giáo chỉ là tương đối và hữu hạn. Cho rằng thần Bà-la-môn dựng nên mọi sự trong vũ trụ là điều ngớ ngẩn và lầm lẫn không những ở nơi các kẻ tôn thờ ngài mà còn của chính ngài. Là hữu thể đầu tiên xuất hiện trong chu kỳ hiện tại của vũ trụ và với ước muốn tự nhiên có những hữu thể khác ở với mình, thần Bà-la-môn dễ lầm tưởng mình tạo dựng những hữu thể kia nhờ ý muốn của mình một khi thấy chúng xuất hiện. Trong lúc đó theo Phật Giáo mọi hữu thể trong chu kỳ hiện tại của vũ trụ, gồm cả chính hữu thể đầu tiên là thần Bà-la-môn, đều phát sinh từ những nguyên nhân vô ngã căn cứ trên nghiệp (karma) của các kiếp trước. Đối với một Thượng Đế hiểu theo kiểu Phật Giáo thì siêu việt tính của ngài rõ ràng không còn là chuyện bất khả dĩ đối với con người. Bỏ qua những khó khăn nội tại do chủ trương 'vô ngã' gây ra (như đã chỉ ra ở trên) để tạm thời xem như có nghĩa nếu một Phật tử nói rằng một người thực hiện thành công Bát Chánh Đạo đương nhiên kiếp sau hay một kiếp sau nữa, sau nữa, có thể 'kéo mình lên ngang tầm' với ngài, 'có thể ngồi uống trà ngang hàng với Thượng Đế'. Trong trường hợp đó có thể đồng ý với nghi vấn của tác giả là khi con người có thể ngang hàng với một Thượng Đế kiểu Phật Giáo thì 'chuyện Thượng Đế có thật hay không có thật, có còn là chuyện quan trọng đáng để bàn hay không'. Thật ra theo Phật Giáo, chuyện đó lại càng không quan trọng để bàn đối với một người đã được giác ngộ (chẳng hạn như Đức Thích Ca), vì người đó siêu việt cả chính Thượng Đế. Bởi lẽ dù tái sinh vào tình trạng cao nhất trong lục đạo, Thượng Đế Bà-la-môn vẫn còn thuộc vòng luân hồi nhân quả, trái lại người giác ngộ thì đạt được sự giải thoát đích thật khỏi mọi tái sinh luân hồi.
3. Thiên Chúa của Kitô Giáo - 'Bình Mới' cho 'Rượu Mới'
Vấn đề Thượng Đế của Phật Giáo nói như trên cũng đã quá đủ rồi vì đó không phải là 'chuyện quan trọng đáng để bàn', bây giờ đến lúc phải nói về Thượng Đế của Kitô giáo. Nhưng để cho danh chính ngôn thuận, từ đây trở về sau tôi sẽ gọi Ngài là 'Thiên Chúa' vì đó là danh từ chính thức mà ngôn ngữ Kitô giáo Việt Nam vẫn dùng. 'Bình mới' (danh từ) thích hợp đựng 'rượu mới' (nội dung, ý nghĩa của danh từ).
Dùng danh từ 'Thiên Chúa' không chỉ để chính danh mà nhất là còn để tránh những ngộ nhận, dù vô tình, đến từ việc dùng danh từ 'Thượng Đế'. Thật vậy, dùng cùng một danh từ Thượng Đế, nhưng tùy theo ảnh hưởng tôn giáo và triết học khác nhau, người ta có thể hiểu về danh từ đó không giống nhau, chẳng hạn một Phật tử có thể hiểu danh từ Thượng Đế theo ý nghĩa của Phật Giáo hơn là theo ý nghĩa truyền thống nói chung của ba tôn giáo độc thần là Do Thái, Kitô, và Hồi Giáo. Dùng cùng một danh từ nhưng không hiểu theo cùng một ý là chuyện thường xảy ra và khó tránh trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Nguyên nhân phần lớn cũng là những giới hạn của ngôn ngữ: theo bản tính chung của nó đã đành mà còn theo những tính cách và điều kiện lịch sử đặc thù của mỗi ngôn ngữ. Nhưng đối với trường hợp Thiên Chúa nguyên nhân không chỉ có thế. Theo cái nhìn của Kitô giáo thì còn có nguyên nhân khác: đó là xét theo thực trạng sa ngã của nhân loại, thì trừ phi nhận được mặc khải của chính Thiên Chúa đến từ Do Thái Giáo và Kitô Giáo, bằng không nhận thức vốn có về Ngài của các nền triết học và tôn giáo ở ngoài hai tôn giáo này có rất nhiều hạn chế, đủ thứ thiếu sót và sai lầm. Ngay cả đối với một sự thật căn bản nhất về Thiên Chúa đó là Ngài là Đấng tất yếu tự hữu và là Đấng tạo dựng trời đất và mọi sự trong đó từ không có gì cả, mà người ta cũng không nhận ra được hay chỉ hiểu cách mơ hồ, lẫn lộn. Do đó ý nghĩa (không dựa vào mặc khải) của các danh từ mà loài người vốn dùng để chỉ về Thiên Chúa tất nhiên chứa đựng đủ thứ hạn chế, thiếu sót và lầm lạc. Có lẽ đó cũng là lý do mà theo Kinh Thánh của Do Thái và Kitô giáo khi Thiên Chúa mặc khải tên của Ngài lần đầu tiên trong lịch sử, thì đó là tên không những hoàn toàn mới mẻ, chưa từng có trong tôn giáo nào, mà tên Ngài còn đặc biệt ở chỗ không thể gọi được, vì chỉ dùng bốn phụ âm YHWH, không có nguyên âm hay chính âm. Thiên Chúa quá thánh thiêng và quá siêu việt nên tên của Ngài không thể gọi được, vì nếu gọi được tức là cách nào đó có thể xem Ngài như thụ tạo vì có thể xếp Ngài vào loại này, loại nọ[4].
Khi đến Việt Nam truyền đạo, các linh mục Công giáo người Âu Châu đương nhiên ý thức những hạn chế về ý nghĩa, nội dung của các danh từ mà các tôn giáo ngoài Do Thái và Kitô giáo dùng cho Thiên Chúa[5]. Nên lúc ban đầu các linh mục thừa sai đã không dùng những danh từ có sẵn trong tiếng Việt, tiếng Hán như Trời, Thiên, Thượng Đế v.v... để nói về Đấng mà Kitô giáo tôn thờ, vì sợ rằng những người Việt được truyền đạo sẽ hiểu lầm về Ngài, sợ rằng họ mà dùng 'bình cũ' (các danh từ đã có sẵn như thế) thì khó bỏ đi 'rượu cũ' (nội dung, ý nghĩa của các danh từ đó theo nhận thức hạn chế, thiếu sót, sai lầm của các tôn giáo ngoài Do Thái và Kitô giáo) để đựng 'rượu mới' (nội dung, ý nghĩa của những gì mà Do Thái và Kitô giáo tin và hiểu về Thiên Chúa), khó thay thế cái trước bằng cái sau. Thay vào đó, để rao giảng về Thiên Chúa cho dân Việt, các vị chọn danh từ tiếng Hán 'Thiên Chủ'[6], vốn đã được các vị thừa sai khác tạo ra trước đó khi truyền đạo ở Trung Quốc[7]. Các linh mục thừa sai ở Việt Nam chỉ Việt hóa hoặc diễn giải đôi chút danh từ 'Thiên Chủ' thành 'Thiên Chúa', 'Chúa Trời', 'Đức Chúa Trời', 'Thiên địa chân Chúa', 'Chúa thật trời đất'. Còn để cho dân Việt gọi vắn tắt là 'Chúa' nhưng đồng thời phân biệt với các chúa của người phàm, chẳng hạn như Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn thời đó, thì các linh mục thừa sai thêm sau chữ 'Chúa' chữ Bồ Đào Nha 'Deu' (từ tiếng Latin: 'Deus') thành 'Chúa Deu'[8].
Khi gọi Đấng mà mình tôn thờ là Yahweh[9], Theos, Deus, Dio, Dieu, God, Thiên Chủ, Thiên Chúa v.v... Kitô giáo tin và hiểu Ngài là Đấng mà bản tính là hiện hữu tất yếu nội tại, là Đấng vô cùng hoàn hảo, tuyệt đối đơn thuần, nên bất khả biến dịch, nhưng do quyết định tự do và yêu thương Ngài đã tạo dựng mọi sự khác từ hư vô (tức mọi thực tại mà bản tính không hiện hữu cách tất yếu nội tại).
4. Ngang hàng với Thiên Chúa của Kitô giáo là chuyện bất khả dĩ, còn muốn như thế lại là chuyện vô luân
Nếu Thiên Chúa được Kitô giáo tin và hiểu như trên, thì vấn đề Ngài có hay không có đương nhiên là chuyện quan trọng và là chuyện quan trọng nhất. Nói cách khác, Kitô giáo có ý nghĩa nội tại hay không chính yếu hệ tại ở chỗ niềm tin và nhận thức như thế về Thiên Chúa thật sự có đúng hay không đúng. Phật Giáo tập trung vào tâm thức của mỗi cá nhân và việc thay đổi tâm thức đó, chứ không phải vào hữu thể nào khác ngay cả đức Phật (các Đức Phật chỉ làm việc chỉ đường). Trái lại Kitô giáo quy hướng vào Thiên Chúa, một Đấng khác với tôi là con người, là Đấng đã dựng nên tôi và siêu việt tôi cũng như mọi con người nào khác, nhưng vì yêu thương những con người như tôi mà trong Con Một Ngài, Ngài đã trở nên một người như tôi. Cho nên nếu gạt Thiên Chúa và Đức Giê-su Kitô (Con Một Thiên Chúa làm người) qua một bên, thì Kitô giáo thật sự không còn ý nghĩa gì nữa.
Như vậy nếu niềm tin và nhận thức của Kitô giáo về Thiên Chúa thật sự không đúng, thì có lẽ trong lịch sử nhân loại Kitô giáo là sự tha hóa hay vong thân lớn nhất của con người. Dĩ nhiên, dù có cho là niềm tin và nhận thức Kitô giáo về Thiên Chúa là sai trái, thì cũng chưa chắc đã hết chuyện. Dù đây không phải là chỗ để bàn giải mà chỉ muốn nói rằng tâm trí con người khó tránh khỏi đặt những câu hỏi như 'Tại sao lại có sự tha hóa như thế?' 'Tại sao con người cụ thể hữu hạn và tương đối lại hướng về một tha thể vô hạn, tuyệt đối?' 'Đâu là nguồn gốc, căn nguyên của khuynh hướng tha hóa, vong thân đó: lịch sử, xã hội, hay ở ngay trong lòng người[10]?' vv và vv...
Còn nếu niềm tin và nhận thức của Kitô giáo về Thiên Chúa thật sự đúng, thì mọi cái tốt đẹp nơi con người, bắt đầu từ sự hiện hữu của nó (tức chính sự kiện tôi có, anh có) cho đến cứu cánh hạnh phúc của nó, đều lệ thuộc vào lòng tốt lành, yêu thương của Thiên Chúa. Tất cả đều là ân huệ Thiên Chúa ban cho con người do tình yêu hoàn toàn vô vụ lợi của Ngài (vì như đã nói trên, có vũ trụ hay không, có con người hay bất kỳ sự gì khác hay không, Thiên Chúa vẫn hoàn hảo cách tuyệt đối, không hơn không kém). Đứng trước một Đấng Tạo Hóa tốt lành và yêu thương con người như thế, thì việc thờ lạy, cảm tạ, tri ân, và ca tụng Ngài chẳng những không có gì sai trái mà còn là chuyện hoàn toàn hợp tình, hợp lý, là chuyện hoàn toàn chính đáng, là chuyện đạo đức trên hết mà con người phải làm và nên làm. Ngược lại, muốn cho được bình đẳng với Thiên Chúa, tìm 'đạt tới' vị trí 'choàng vai' Thiên Chúa 'mà đi uống cà phê hoặc ngồi uống trà ngang hàng với ổng mà không một chút áy náy' thì đó mới là ảo tưởng hết sức vô lý, là hoang tưởng lớn nhất, vì muốn một điều hoàn toàn bất khả dĩ về mặt siêu hình học, hoàn toàn vượt quá khả năng của một bản tính thụ tạo. Nếu có thể tưởng tượng ngày nào đó các robot tìm cách ngang hàng với loài người chế tạo ra chúng, thì chuyện đó vẫn còn khả dĩ, còn có lý hơn vô vàn lần chuyện con người tìm đạt tới địa vị ngang hàng với Thiên Chúa tạo dựng nó từ hư vô. Đã vô lý lại vô luân: kiêu căng, ngạo mạn cách mù tối tới mức hoàn toàn lệch lạc đối với bản tính tự nhiên của con người. Hay nói theo ngôn ngữ Kitô giáo thì muốn ngang hàng với Thiên Chúa như đang nói là một thứ 'tội tổ tông' mà tội đó là tội kiêu ngạo đầu tiên của thụ tạo có lý trí. Tội đó là 'đầu cội rễ mọi sự dữ': nó đã biến thiên thần thành ác quỷ và đã làm cho nguyên tổ loài người và con cháu họ rơi vào cảnh trầm luân đau khổ.
5. Thiên Chúa của Kitô giáo làm cho con người thành con cái của Ngài
Kitô giáo tin rằng con người kiêu ngạo tìm cách trở nên giống như Thiên Chúa nhưng đã thất bại, lại còn tự 'chuốc họa', tự gây đau khổ cho chính bản thân và dòng dõi mình. Bị quỷ dữ cám dỗ, nguyên tổ loài người đã nghi ngờ Thiên Chúa như là kẻ cạnh tranh với con người, luôn tìm cách kiềm chế để con người khỏi bằng mình[11]. Nhưng mặc khải được tiếp nhận trong đức Tin của Do Thái giáo và Kitô giáo cho thấy Thiên Chúa không hề cạnh tranh với con người, không những chỉ bởi vì mọi cái con người là và có đều là do Ngài ban cho họ, về phía họ, họ chẳng có gì đáng để cho Ngài cạnh tranh, nhưng nhất là bởi vì Ngài là Đấng rất mực yêu thương con người, kể cả khi họ nổi loạn chống lại Ngài. Chẳng những Ngài không hề bỏ mặc con người trong tội lỗi và đau khổ do tự họ gây ra, mà còn đi làm những điều mà con người ngay cả nằm mơ hay tưởng tượng cũng không thể thấy. 'Những điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới'[12]: đó là Thiên Chúa quá yêu thương loài người đến nổi đã cho Con Một Ngài theo bản tính nhập thể thành nhân tức là Đức Giê-su Kitô; Thiên Chúa đã muốn Ngài chịu đau khổ và chịu chết trên cây thập tự để hy sinh đền bù cho tội lỗi của loài người, không những chữa lành bản tính con người bị hư hỏng vì tội lỗi mà còn siêu thăng bản tính đó, nâng loài người lên địa vị và phẩm giá của con cái Thiên Chúa, cho họ thông phần vào sự sống vĩnh cửu và vinh quang bất diệt của Ngài[13]. Con Một Thiên Chúa làm người, chịu đau khổ, chịu chết, và sống lại để cho nhân loại trở nên con cái Thiên Chúa: đó là tin mừng, tin vui cứu rỗi căn bản mà Kitô giáo không ngừng loan báo cho nhân loại. Thánh tông đồ Phaolô viết thư cho các Kitô hữu ở Rô-ma vào những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ thứ nhất đã tái khẳng định với họ tin vui nền tảng này khi ngài nói: 'Chính Thần Khí [Thiên Chúa] đó cùng chứng thực với thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con, thì cũng là người thừa kế, mà là người thừa kế của Thiên Chúa, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô'[14].
Như thế đối với Kitô giáo, 'vấn đề' không phải là 'biết cách kéo mình lên ngang tầm' với Thiên Chúa, bởi vì về phía Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô và nhờ Thánh Thần, Ngài đã sẵn sàng làm cho con người thành con cái của Ngài, thành anh chị em của Con Một Ngài, nên một với Ba Ngôi Thiên Chúa[15]. Vấn đề chỉ là về phía mỗi người vẫn còn có đó tự do đón nhận hay không đón nhận phẩm giá và quyền nghĩa tử mà Thiên Chúa muốn ban cho mình, và nếu đón nhận thì phải sống sao cho xứng đáng với phẩm giá đó, cũng như không ngừng phát huy phẩm giá đó cho đến lúc hoàn thiện trong thiên quốc của Thiên Chúa.
Lm. Phaolô Trần Xuân Tâm
-------------------------------------------------------------------------------
Bài liên quan:
Vấn đề 'Thượng Đế' hay Thiên Chúa (1)
Vấn đề 'Thượng Đế' hay Thiên Chúa (2)
Vấn đề 'Thượng Đế' hay Thiên Chúa (3)
Vấn đề 'Thượng Đế' hay Thiên Chúa (4)
Chú thích
[1] Những gì mà tôi nói về Phật Giáo trong phần IV của bài viết này, nhất là chủ trương 'vô ngã' và quan niệm về 'Thượng Đế' của Phật Giáo, chính yếu đến từ Paul Williams, một học giả hiện thời rất có uy tín trong lãnh vực Phật Học, nhất là về Phật Giáo Đại Thừa (Mahayana) nói chung và Phật Giáo Tây Tạng nói riêng, cụ thể về những gì liên quan đến Phật Giáo trong bài viết của tôi xin tham khảo thêm: Paul Williams: 1. The Unexpected Way - On Converting from Buddhism to Catholicism. London: T & T Clark Ltd - A Continuum Imprint, 2002: esp. 198-203; 2. 'Aquinas Meets the Buddhists'. Aquinas in Dialogue - Thomas for the Twenty-First Century. Edited by Jim Fodor and Frederick Christian Bauerschmidt. Malden, MA: Blackwell Publishing Ltd, 2004: 87-117; 3. 'Catholicism and Buddhism'. The Catholic Church and the World Religions - A Theological and Phenomenological Account. Edited by Gavin D'Costa. London: T & T Clark Ltd - A Continuum Imprint, 2011: 141-177. Cũng đáng lưu ý là Paul Williams đã theo Công giáo sau hai mươi năm thực hành và giảng dạy Phật Giáo Tây Tạng.
[2] Phật Giáo thường nói kẻ chết và kẻ tái sinh không phải là cùng một kẻ mà cũng không phải khác nhau. Vế sau 'không phải khác nhau' phải hiểu theo những gì đang nói ở đây, nghĩa là 'không phải không có liên quan nhân quả với nhau', hay nói chính xác, kẻ chết và kẻ tái sinh thuộc về cùng một sự liên tục xác định về mặt nhân quả, chứ không phải thuộc về hai sự liên tục khác nhau. A chết thì cái tái sinh chỉ có thể là B thôi chứ không thể là B' hay bất kỳ cái gì khác. B' chỉ có thể phát sinh từ một mối liên kết nhân quả khác, chẳng hạn đến từ A'; nghĩa là cũng giống như tương quan giữa A và B, A' chết thì cái tái sinh chỉ là B' thôi, chứ không thể là B hay bất kỳ cái gì khác. Nhưng A vẫn không phải là B, A' vẫn không phải là B': cái trước và cái sau không phải là cùng một chủ thể, cùng một bản ngã, vì chủ trương 'vô ngã' của Phật Giáo không cho phép có một thứ chủ thể hay bản ngã như thế.
[3] Một trong những lý do mất nhiều kiếp là vì theo Phật Giáo có tái sinh thành người thì mới có những cơ hội, khả năng giác ngộ mà tái sinh thành những thứ khác không thể nào có được, thế nhưng tái sinh thành người lại không dễ dàng và khá hiếm hoi 'như tìm sao giữa ban ngày'. Dầu sao ngay cả kiểu nói mất nhiều kiếp cũng gây hiểu lầm quan niệm 'vô ngã' của Phật Giáo, vì thật ra chủ trương 'vô ngã' khiến cho chuyện mất ít kiếp hay nhiều kiếp để giác ngộ không còn quan trọng mấy.
[4] Phần nào tương tự như Lão Tử nói trong Đạo Đức Kinh 'Đạo khả đạo phi thường đạo. Danh khả danh phi thường danh'.
[5] Cả đoạn này được tôi viết dựa vào: Trần Văn Toàn. Đạo Trung Tùy Bút. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, 2008: 75-77.
[6] Dĩ nhiên 'Thiên Chủ' viết ở đây đã là phiên âm theo cách đọc Hán-Việt (cách dân Việt đọc tiếng Hán).
[7] Chính các linh mục Công Giáo người Âu Châu truyền đạo ở Trung Quốc cũng không muốn dùng các danh từ Thiên, Thượng Đế đã có sẵn trong tiếng Hán, nhưng tạo ra danh từ 'Thiên Chủ' là để bảo vệ siêu việt tính về ý nghĩa, nội dung của những gì Do Thái và Ki-tô giáo tin và hiểu về Thiên Chúa.
[8] Nhưng người Công Giáo Việt Nam thời xưa không đọc là 'Chúa Đêu' mà đọc là 'Chúa Zêu', 'Chúa Rêu', hay 'Chúa Jêu'.
[9] Sau này nguyên âm được thêm vào 'Yhwh' để có thể gọi được.
[10] Nếu nguồn gốc của khuynh hướng tha hóa đang nói ở trong lòng người, thì đó là sự tha hóa phổ quát và do đó hiện diện không riêng gì ở trong Ki-tô giáo mà ở trong các tôn giáo khác kể cả Phật Giáo, thậm chí ở trong cả ở những lý tưởng chính trị xã hội nhưng mang tính tôn giáo như thuyết Marxist chẳng hạn.
[11] Có lẽ cám dỗ nguyên thủy này đã để lại vết tích của nó trong nhiều tôn giáo của người thượng cổ theo đó thì thần thánh và loài người là hai thế lực không ngừng cạnh tranh nhau - và có lẽ đó cũng là một trong những chỗ dễ bị các thực hành tôn giáo ma thuật lợi dụng: ma thuật vẫn tiếp tục là một thứ 'trái cấm' mà Satan tiếp tục dùng để để lừa dối con người tin rằng có những bí quyết nào đó nếu nắm được chúng thì có thể thành ngang hàng với thần thánh hay các sức mạnh siêu nhiên, hay đi xa hơn để ràng buộc hay điều khiển các thế lực như thế theo ý mình. Trong Kinh Thánh người Do Thái cổ có lúc phải vay mượn những huyền thoại tôn giáo của các dân tộc lân bang (nhất là những gì thuộc nền văn minh Lưỡng Hà Địa) để diễn tả những sự thật về đức Tin độc thần giáo của mình. Họ đương nhiên phải thay đổi những huyền thoại ấy cho phù hợp với chức năng diễn tả đức Tin độc thần, nhưng không nhất thiết xóa hẳn mọi vết tích ngoại giáo đang nói, chẳng hạn trong câu chuyện tháp Ba-ben.
[12] Tham chiếu: Kinh Thánh Tân Ước, Thư thứ nhất của thánh Phao-lô gửi các tín hữu ở Corinthô, chương 2, câu 9.
[13] Đối chiếu: Kinh Thánh Tân Ước, Tin Mừng theo thánh Gioan, chương 3, câu 14 đến câu 17.
[14] Tham chiếu: Kinh Thánh Tân Ước, Thư của thánh Phao-lô gửi các tín hữu ở Rô-ma, chương 8, câu 16 đến câu 17.
[15] Vì Thiên Chúa Ba Ngôi (Tam Vị Nhất Thể) là mầu nhiệm căn bản và quan trọng nhất của Ki-tô giáo, hiện diện trong và xuyên suốt tất cả những gì mà Ki-tô giáo tin và hiểu về Thiên Chúa, cho nên tôi không thể không nói đến trong những gì đang nói ở đây. Mặc dầu dĩ nhiên bài viết này không phải là chỗ để trình bày mầu nhiệm vô cùng cao cả này, nhưng cũng nên nhấn mạnh ở đây là không giống như Hồi Giáo hiểu sai lệch, Thiên Chúa Ba Ngôi của Ki-tô giáo không phải là ba Thiên Chúa mà chính là Thiên Chúa độc nhất và đơn nhất của Do Thái Giáo, bởi vì Ki-tô tuyên xưng Thiên Chúa tuyệt đối là một xét theo bản tính, yếu tính, hay bản thể. Nhưng nhờ mặc khải hoàn hảo của Thiên Chúa trong Đức Giê-su Ki-tô, Ki-tô giáo còn đi xa hơn mà tin và biết rằng Thiên Chúa còn là Cha, Con (tức Đức Giê-su), và Thánh Thần, là Ba Ngôi Vị thật sự phân biệt, không phải theo bản tính hay bản thể, nhưng theo tương quan về nguồn gốc đối với nhau.
