Hành hương đến Đức Mẹ Lộ Đức

0 /5
1 người đã bình chọn
Đã xem:  | Cập nhật lần cuối:2026-09-21 11:11:00  | RSS

WHĐ (21/9/2026) – Trong những ngày hướng đến chuyến hành hương Lộ Đức của Đức Giáo hoàng Lêô XIV, bài viết đưa độc giả tìm hiểu miền đất đã trở thành điểm đến của hàng triệu tín hữu kể từ những lần Đức Mẹ hiện ra với Thánh Bernadette năm 1858. Qua lịch sử các cuộc hiện ra, hang Massabielle, nguồn nước, những người bệnh và đời sống cầu nguyện tại Đền thánh, tác giả giúp người đọc khám phá ý nghĩa thiêng liêng của Lộ Đức và của một cuộc hành hương đích thực.

Tôi đã đến châu Âu cách đây mười năm (2016). Trong suốt thời gian ấy, tôi nghe rất nhiều người nói về Đức Mẹ Lộ Đức, tiếng Pháp gọi là Notre-Dame de Lourdes. Với người Công giáo Việt Nam, hai tiếng “Lộ Đức” rất quen thuộc. Nhiều giáo xứ có hang đá Đức Mẹ Lộ Đức, nhiều gia đình đặt tượng Mẹ trong sân nhà, và không ít người vẫn ước ao một lần được đến tận nơi Đức Mẹ đã hiện ra với thánh nữ Bernadette. Thế nhưng, dù đã sống tại châu Âu khá lâu và đi qua nhiều thành phố, tôi vẫn chưa có dịp đặt chân đến miền đất hành hương này.

Bởi thế, khi đang ở Pamplona, tôi mở bản đồ ra xem và nhận thấy Lộ Đức không xa lắm nếu tính theo đường thẳng. Chỉ cần vượt qua dãy Pyrenees, ranh giới thiên nhiên giữa Tây Ban Nha và Pháp, đi xe hơi chỉ mất khoảng năm hoặc sáu tiếng. Tuy nhiên, bản đồ luôn có cách làm cho mọi con đường có vẻ dễ dàng hơn thực tế. Số là tôi đi bằng phương tiện công cộng nên không thể băng thẳng qua núi. Từ Pamplona, tôi phải quay trở lại San Sebastián, rồi từ đó tiếp tục bắt tàu sang Pháp. Hành trình tưởng như rất gần cuối cùng lấy gần trọn một ngày.

Dù vậy, tôi không thấy tiếc. Những con đường vòng nhiều khi lại giúp người hành hương có thêm giờ để chuẩn bị tâm hồn. Tôi vừa rời Pamplona, nơi một viên đạn đại bác đã làm gãy chân Thánh Inhã Loyola và mở đầu cho cuộc hoán cải của ngài. Bây giờ tôi đang đi đến một nơi mà biết bao người mang bệnh tật, thương tích và những gánh nặng trong lòng tìm về để xin được chữa lành. Từ vết thương của một người hiệp sĩ đến những vết thương của hàng triệu khách hành hương, con đường ấy dường như vẫn nằm trong cùng một kế hoạch âm thầm của Thiên Chúa.

Khi đến Lộ Đức, tôi được anh Lộc và chị Nga đón tiếp trong một gia đình Việt Nam. Sau một ngày dài đổi xe và kéo hành lý, được nghe tiếng Việt, được dùng một bữa cơm quen thuộc và được ngồi trò chuyện trong một mái nhà có hương vị quê hương là một niềm an ủi rất lớn. Anh chị chia sẻ rằng dù đến Lộ Đức vào mùa nào, người ta cũng dễ cảm thấy lòng mình chậm lại. Lộ Đức có rất đông khách hành hương, có tiếng chuông, tiếng hát, tiếng bước chân, tiếng xe lăn và đủ mọi ngôn ngữ, nhưng lạ lùng thay, giữa tất cả những âm thanh ấy vẫn có một sự thinh lặng rất sâu. Người ta đến đây không chỉ để nhìn, nhưng còn để ở lại; không chỉ để chụp hình, nhưng để mang một điều gì đó trong lòng đến trước Đức Mẹ.

Từ một hang đá bị bỏ quên đến miền hành hương của thế giới

Năm 1858, Lộ Đức chưa phải một trung tâm hành hương quốc tế. Đó chỉ là một thị trấn nhỏ dưới chân dãy Pyrenees, có hơn bốn ngàn cư dân, nằm bên dòng sông Gave de Pau. Khu vực Massabielle, nơi các cuộc hiện ra xảy ra, lúc ấy là một hốc đá hẻo lánh ở bên bờ sông, nơi người ta tìm củi, chăn súc vật và ít ai nghĩ sẽ có ngày trở thành một trong những địa điểm Công giáo nổi tiếng nhất thế giới.

Nước Pháp lúc đó đang sống dưới Đế chế thứ hai của Hoàng đế Napoléon III. Đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mạnh về ngân hàng, đường sắt, thương mại và đô thị hóa. Những thành phố lớn ngày càng hiện đại, việc đi lại giữa các vùng cũng thuận tiện hơn trước. Tuy nhiên, sự phát triển ấy không xóa ngay được cảnh nghèo tại các vùng nông thôn và miền núi. Gia đình Bernadette Soubirous thuộc về phần dân chúng nghèo ấy: thất bại trong công việc, thiếu thốn vật chất và phải sống trong một căn phòng cũ từng được dùng làm nhà giam, gọi là Cachot.

Bernadette khi ấy mới mười bốn tuổi, sức khỏe yếu, thường bị hen suyễn, học hành ít và chưa được rước lễ lần đầu. Ngày 11 tháng 2 năm 1858, em cùng em gái và một người bạn đi đến Massabielle để tìm củi. Chính tại hang đá ấy, Bernadette kể rằng em nhìn thấy một người phụ nữ trẻ mặc áo trắng, thắt một dải khăn màu xanh và cầm tràng hạt. Ban đầu, Bernadette không gọi người mình thấy là Đức Mẹ. Em chỉ dùng từ địa phương Aquero, có thể hiểu gần như ‘Người ấy’. Chính sự dè dặt này là một chi tiết đáng chú ý trong lời chứng của Bernadette.

Từ ngày 11 tháng 2 đến ngày 16 tháng 7 năm 1858, Bernadette nói rằng người phụ nữ đã hiện ra với em tất cả mười tám lần. Trong những lần gặp gỡ ấy, sứ điệp dần trở nên rõ ràng hơn: hãy cầu nguyện, sám hối, cầu cho người tội lỗi, hãy tổ chức những cuộc rước và xây một nhà nguyện tại đây. Ngày 25 tháng 2, trong lần hiện ra thứ chín, Bernadette được mời đến nguồn nước để uống và rửa mặt. Em cào lớp đất ẩm trong hang, và từ đó dòng nước dần lộ ra.

Ngày 25 tháng 3, lễ Truyền Tin, người phụ nữ tự xưng: “Que soy era Immaculada Concepciou – Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.” Các cuộc hiện ra kết thúc ngày 16 tháng 7 năm ấy. Sau gần bốn năm điều tra, ngày 18 tháng 1 năm 1862, Đức cha Bertrand-Sévère Laurence, Giám mục Tarbes, chính thức công nhận các cuộc hiện ra.

Điều đáng chú ý là Giáo hội đã không vội vàng tin ngay. Bernadette phải trải qua nhiều cuộc thẩm vấn. Các lời kể được đối chiếu, các hiện tượng chữa lành được xem xét, và một ủy ban được thành lập để điều tra. Đức tin Công giáo không đòi người ta phải dễ dàng tin mọi điều khác thường. Giáo hội luôn cần phân định để nhận ra đâu là hoa trái của Thiên Chúa, đâu chỉ là cảm xúc, tưởng tượng hoặc sự phóng đại của con người.

Từ một cô gái nghèo gần như không ai biết đến và một hang đá nằm bên lề thị trấn, Lộ Đức dần trở thành miền đất hành hương của thế giới. Điều ấy cũng xảy ra tại nhiều nơi trong lịch sử cứu độ: Thiên Chúa không nhất thiết bắt đầu từ những trung tâm quyền lực. Ngài có thể khởi sự một công trình lớn từ một làng nhỏ, một gia đình nghèo và một con người không có tiếng nói trong xã hội.

Hang đá, dòng sông và những công trình của người hành hương

Khi đến Lộ Đức hôm nay, người ta nhìn thấy một quần thể kiến trúc rất lớn. Chẳng hạn Đền thánh Đức Mẹ Lộ Đức với vài vương cung thánh đường. Nằm cao trên tảng đá là Vương cung thánh đường Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Phía dưới là Hầm nguyện (Crypt), nơi phụng tự đầu tiên được xây dựng để đáp lại lời mời “hãy xây một nhà nguyện tại đây”. Thấp hơn nữa, với hai cánh cầu thang cong mở ra phía quảng trường, là Vương cung thánh đường Đức Mẹ Mân Côi. Ngoài ra, dưới lòng đất còn có Vương cung thánh đường Thánh Piô X, đủ rộng để cử hành những thánh lễ quốc tế với hàng chục ngàn người.

Đứng từ quảng trường nhìn lên, các công trình ấy đem lại cảm giác vừa vững chãi vừa thanh thoát. Những ngọn tháp cao hướng mắt người ta lên trời, trong khi hai cánh cầu thang như đôi tay rộng mở đón những đoàn người đang tiến vào. Tôi có cảm tưởng kiến trúc ở đây không chỉ được xây để người ta ngắm nhìn, nhưng còn để đưa con người vào một chuyển động thiêng liêng: từ quảng trường đi lên, từ náo động đi vào thinh lặng, từ cuộc sống thường ngày tiến đến một không gian cầu nguyện.

Ngay bên cạnh Đền thánh là dòng Gave de Pau. Con sông bắt nguồn từ vùng núi Pyrenees, uốn mình qua Lộ Đức và chảy sát Hang Massabielle. Trong những ngày mùa hè, tiếng nước và hơi mát từ dòng sông làm không khí trở nên dễ chịu hơn. Dòng nước ấy đem lại cho Lộ Đức một vẻ hiền hòa và thi vị, như thể thiên nhiên cũng tham dự vào lời cầu nguyện của những người hành hương.

Chung quanh Đền thánh là rất nhiều khách sạn, nhà hàng, cửa hàng ảnh tượng và các cơ sở phục vụ khách hành hương. Một thị trấn nhỏ từ thế kỷ XIX đã thay đổi rất nhiều vì dòng người liên tục đổ về. Kinh tế của thành phố rõ ràng được nâng đỡ mạnh mẽ bởi việc hành hương và du lịch. Điều ấy cũng tạo nên một nghịch lý: một biến cố bắt đầu với một cô gái nghèo nay lại được bao quanh bởi rất nhiều hoạt động kinh doanh.

Tuy nhiên, giữa bao nhiêu thay đổi, hang Massabielle vẫn là trái tim của Lộ Đức. Phần đá chính của hang được gìn giữ với sự đơn sơ vốn có. Người hành hương đi chậm qua vách đá, nhiều người đưa tay chạm vào bề mặt đã trở nên nhẵn bóng bởi hàng triệu bàn tay. Có người cúi đầu cầu nguyện, có người khóc, có người chỉ đứng thật lâu mà không nói gì. Giữa các vương cung thánh đường đồ sộ, hang đá vẫn chỉ là một hốc đá tự nhiên, như một lời nhắc rằng Thiên Chúa đã chọn chính nơi nhỏ bé ấy để gặp một thiếu nữ nghèo.

Có lẽ đó là nét đẹp đặc biệt nhất của Lộ Đức. Con người có thể xây những công trình lớn để tạ ơn, nhưng Giáo hội vẫn cố gìn giữ nơi mọi sự bắt đầu. Hang đá không chỉ là một chứng tích lịch sử. Nó vẫn là lời mời gọi đang tiếp tục vang lên: hãy đến, hãy cầu nguyện, hãy trở về với Thiên Chúa.

Dòng nước không phải một thứ thuốc thần kỳ

Tại chân hang, nguồn nước Bernadette tìm thấy ngày 25 tháng 2 năm 1858 vẫn tiếp tục chảy và được dẫn đến các vòi nước để khách hành hương uống, rửa mặt hoặc mang về cho người thân. Tôi đứng đó và nhìn từng đoàn người đến với tất cả lòng tin tưởng. Có người hứng nước vào chai, có người nhẹ nhàng rửa mặt, có người đem nước về cho một người bệnh đang ở rất xa.

Tuy nhiên, khi nói về nước Lộ Đức, chúng ta cần vừa có đức tin vừa tôn trọng sự thật. Tôi từng được nghe rằng mỗi ngày Bộ Y tế Pháp đều cử người đến kiểm tra nguồn nước. Nhưng tôi không tìm được tài liệu chính thức xác nhận chi tiết này, nên không muốn đưa nó vào như một sự kiện chắc chắn. Điều Đền thánh chính thức xác nhận là các phân tích khoa học không tìm thấy trong nước một đặc tính hóa học hoặc khả năng chữa bệnh đặc biệt. Nước Lộ Đức không phải một thứ thuốc thần kỳ. Nó là một dấu chỉ thiêng liêng, gợi lại Bí tích Rửa tội, sự thanh tẩy và lời mời gọi đặt lòng tin nơi Thiên Chúa.

Nói như thế không có nghĩa là phủ nhận các phép lạ. Từ năm 1858 đến nay, hơn bảy ngàn trường hợp chữa lành đã được trình báo tại Văn phòng Khảo sát Y khoa Lộ Đức (Bureau des Constatations Médicales), nhưng tính đến năm 2026, Giáo hội mới chính thức nhìn nhận 72 trường hợp là phép lạ. Con số ấy cho thấy Giáo hội rất thận trọng. Việc điều tra y khoa và việc tuyên bố phép lạ là hai bước khác nhau. Các bác sĩ xem xét liệu sự chữa lành có hoàn toàn, bền vững, đột ngột và không thể giải thích thỏa đáng theo kiến thức y khoa hiện tại hay không. Sau đó, thẩm quyền Giáo hội – cụ thể là Giám mục giáo phận của người được chữa lành – mới xem xét và quyết định có tuyên bố đó là một phép lạ hay không.

Đứng giữa những người hành hương, tôi nhận ra rằng không phải mọi ơn lành đều có thể ghi vào hồ sơ y khoa. Có người không được khỏi bệnh, nhưng tìm lại bình an. Có người vẫn phải trở về trên xe lăn, nhưng không còn tuyệt vọng. Có một gia đình được hòa giải, một người con trở về, một người đang khủng hoảng lại tìm được lý do để tiếp tục sống. Những ơn ấy không thể đo bằng máy móc, nhưng có thể làm thay đổi cả một cuộc đời.

Chính vì thế, tại Lộ Đức, người bệnh giữ một vị trí rất đặc biệt. Trong xã hội, người khỏe thường đi trước và người yếu phải cố gắng theo sau. Ở đây, người bệnh được đưa lên trước, còn người khỏe bước bên cạnh hoặc đi phía sau. Cả một Đền thánh dường như học cách điều chỉnh nhịp sống của mình theo bước chân của những người chậm nhất. Tôi thấy những thiện nguyện viên trẻ đẩy xe lăn, những người lớn tuổi giúp bệnh nhân lên xuống xe, những bàn tay âm thầm sắp xếp ghế, hướng dẫn đoàn người và lắng nghe những người xa lạ. Họ không đứng trên sân khấu. Nhiều bệnh nhân thậm chí không biết tên người đã đẩy xe cho mình. Nhưng chính những con người không ai nhớ tên ấy giúp Lộ Đức trở thành Lộ Đức.

Một người bệnh có thể chưa đứng dậy khỏi xe lăn, nhưng một người ích kỷ có thể bắt đầu biết cúi xuống. Và phép lạ thứ hai đôi khi còn khó hơn phép lạ thứ nhất.

Thánh lễ, lời kinh và dòng nến trong đêm

Tạ ơn Chúa, tôi được đồng tế tại Lộ Đức với nhiều linh mục đến từ các quốc gia khác nhau. Có những đoàn người Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Việt Nam và nhiều nơi khác trên thế giới. Mỗi người mang theo một ngôn ngữ, một nền văn hóa và một câu chuyện riêng, nhưng trong thánh lễ, tất cả cùng lắng nghe một Lời Chúa, cùng tuyên xưng một đức tin và cùng quy tụ chung quanh một bàn thờ.

Đây là một kinh nghiệm rất đẹp về tính Công giáo của Giáo hội. Tôi có thể không biết tên những linh mục đứng bên cạnh mình và có lẽ sẽ không bao giờ gặp lại họ. Nhưng trong giây phút ấy, chúng tôi cùng dâng một hy lễ, cùng cầu nguyện cho những người bệnh và cùng đặt mình dưới ánh mắt của Đức Mẹ.

Tuy nhiên, Lộ Đức không chỉ sống trong những thánh lễ. Một trong những hình ảnh đẹp nhất là cuộc rước nến vào buổi tối. Trong mùa hành hương, đoàn rước kính Đức Mẹ thường bắt đầu vào lúc chín giờ. Người ta cầm nến, lần chuỗi Mân Côi và hát kinh Kính mừng bằng nhiều ngôn ngữ. Từ xa nhìn lại, hàng ngàn ngọn nến chuyển động giống như một dòng sông bằng ánh sáng.

Mỗi người đi trong đoàn rước mang một tâm tình khác nhau. Có người cầu cho một bệnh nhân. Có người cầu cho gia đình. Người mang theo một nỗi đau không thể nói thành lời. Có người chẳng biết phải xin gì, chỉ đơn giản cầm nến và bước đi với cộng đoàn.

Trong đoàn người ấy, tôi cảm thấy tâm hồn mình dễ hướng về Thiên Chúa hơn. Không phải vì mọi lo lắng tự nhiên biến mất, nhưng vì tôi nhận ra mình không phải người duy nhất đang mang một gánh nặng. Bên cạnh tôi còn biết bao con người cũng đang cầu nguyện, cũng đang hy vọng và cũng có những câu hỏi chưa được trả lời.

Nếu có thêm thời gian và sức khỏe, người hành hương có thể đi Đàng Thánh giá trên đồi Espélugues, nằm gần Đền thánh. Con đường có nhiều đoạn dốc, dẫn qua những chặng thương khó của Đức Giêsu và đưa người hành hương lên cao hơn. Từ một số vị trí, có thể nhìn xuống quần thể Lộ Đức, dòng Gave de Pau và những ngọn núi chung quanh. Đối với người không thể đi đường dốc, Đền thánh cũng có một tuyến Đàng Thánh giá dễ tiếp cận hơn.

Nhìn Lộ Đức từ trên cao, tôi thấy thành phố hiện ra rất hiền hòa. Những ngọn tháp nhà thờ, dòng sông, những mái nhà, khách sạn và dãy Pyrenees nằm bên nhau. Nhưng cảnh đẹp ấy không chỉ để thưởng ngoạn. Nó giúp người hành hương nhìn cuộc đời mình từ một khoảng cách khác. Có những vấn đề khi ở quá gần làm chúng ta tưởng như chiếm trọn thế giới. Nhưng khi đứng cao hơn một chút, hoặc khi đặt chúng trong lời cầu nguyện, ta nhận ra chúng vẫn chỉ là một phần của một hành trình lớn hơn.

Đức Mẹ trong lòng một nước Pháp đang thay đổi

Các cuộc hiện ra xảy ra trong một nước Pháp đang chuyển mình mạnh mẽ. Một mặt, khoa học, công nghiệp, ngân hàng và đường sắt phát triển. Con người ngày càng tin vào khả năng kiểm soát thiên nhiên và xây dựng tương lai bằng lý trí. Mặt khác, xã hội vẫn còn nhiều người nghèo, nhiều vùng bị bỏ lại phía sau và những vết thương chính trị từ Cách mạng Pháp cùng những lần thay đổi chế độ vẫn chưa hoàn toàn khép lại.

Trong bối cảnh ấy, Đức Maria không hiện ra tại Paris, không tìm đến cung điện hoàng gia và cũng không đưa ra một chương trình chính trị. Mẹ đến với một thiếu nữ nghèo tại một hang đá hẻo lánh. Sứ điệp không phức tạp: cầu nguyện, sám hối, cầu cho người tội lỗi, tổ chức các cuộc rước và xây một nhà nguyện.

Sám hối ở đây không phải là sống trong sợ hãi. Sám hối là quay lại, là để Thiên Chúa thay đổi hướng đi của đời mình. Chính sự đơn sơ ấy giúp sứ điệp Lộ Đức vượt qua những ranh giới chính trị, văn hóa và thời đại. Một người trí thức có thể đến đây. Một người lao động có thể đến. Một bệnh nhân, một người trẻ hay một người đã mất đức tin cũng có thể đứng trước hang đá mà không cảm thấy mình bị loại trừ.

Đức Mẹ không kéo con người về với chính Mẹ. Mẹ luôn dẫn người ta đến Đức Giêsu. Bởi thế, trung tâm của Lộ Đức không phải chỉ là một pho tượng, nhưng là thánh lễ, Bí tích Hòa giải, việc cầu nguyện và sự phục vụ những người đau yếu.

Những vị giáo hoàng hành hương Lộ Đức

Lộ Đức cũng có một mối liên hệ đặc biệt với các vị giáo hoàng. Thánh Gioan Phaolô II đã hành hương đến đây hai lần, vào các năm 1983 và 2004. Trong chuyến viếng thăm cuối, sức khỏe của ngài đã suy yếu rõ rệt, nên hình ảnh vị giáo hoàng già yếu ở giữa các bệnh nhân trở thành một chứng từ rất cảm động. Đức Bênêđictô XVI đến Lộ Đức năm 2008, nhân dịp kỷ niệm 150 năm các cuộc hiện ra, và đã cùng khách hành hương tham dự cuộc rước nến. Đặc biệt trong tuần này, Đức Giáo hoàng Lêô XIV sẽ đến Lộ Đức vào ngày 27 tháng 9 năm 2026.

Các vị giáo hoàng đến Lộ Đức không phải để tôn thờ Đức Maria thay cho Thiên Chúa. Các ngài đến như những người hành hương, để cùng Đức Mẹ ca tụng Thiên Chúa và để nhờ lời chuyển cầu của Mẹ, Giáo hội được dẫn sâu hơn vào mầu nhiệm của Đức Kitô.

Một cuộc hành hương không kết thúc ở hang đá

Ngày nay, người Công giáo Việt Nam đến Lộ Đức hoặc Fatima thuận tiện hơn rất nhiều so với các thế hệ trước. Có những đoàn do giáo phận, giáo xứ, hội đoàn hoặc các linh mục tổ chức. Những người đang sống tại châu Âu cũng có thể đi bằng tàu, xe buýt hoặc xe hơi. Đi theo đoàn có những thuận lợi riêng: có người hướng dẫn, có chương trình thánh lễ và có cộng đoàn cùng cầu nguyện. Đi một mình lại cho người hành hương nhiều khoảng thinh lặng và tự do hơn.

Nhưng dù đi theo hình thức nào, điều quan trọng là đừng biến hành hương thành một cuộc chạy đua qua các địa điểm. Người ta có thể đến Lộ Đức, chụp rất nhiều hình, mua nhiều ảnh tượng và mang về những chai nước lớn, nhưng chưa chắc đã thật sự gặp Đức Mẹ.

Một cuộc hành hương đúng nghĩa cần có thời gian để đứng trước hang đá, để tham dự thánh lễ, để lãnh nhận Bí tích Hòa giải, để đi giữa những người bệnh, để cầm một ngọn nến trong đêm và nhất là để thành thật hỏi lòng mình: tôi đang mang điều gì đến đây, và tôi sẽ mang điều gì trở về?

Tôi nghĩ Lộ Đức không chỉ là nơi người ta đến xin ơn. Đây còn là nơi người ta học cách trở thành một ân huệ cho người khác.

Nếu sau chuyến hành hương, tôi biết kiên nhẫn hơn với một người đi chậm, biết ở lại với một người đang đau khổ, biết lắng nghe mà không vội giảng giải, thì tôi đã mang được một chút Lộ Đức về nhà. Có thể gia đình và cộng đoàn của chúng ta không có một hang đá lớn, nhưng nơi nào người yếu được đón nhận và người đau khổ không bị bỏ rơi, nơi ấy đã có một phần tinh thần của Lộ Đức.

Sau mười năm, cuối cùng tôi đã đến

Trước khi rời đi, tôi ngồi bên dòng Gave de Pau. Nước vẫn chảy, tiếng chuông vẫn vang lên và những đoàn người vẫn tiếp tục đi về phía hang đá. Tôi dành một khoảng thời gian để nhìn lại hành trình của mình.

  • Tôi đã đến Lộ Đức để xin điều gì?
  • Tôi đã để lại điều gì trước Đức Mẹ?
  • Và tôi sẽ mang điều gì về?

Là linh mục, tôi thường quen với vai trò cầu nguyện cho người khác, lắng nghe họ, khuyên nhủ họ và ban phép lành. Nhưng tại Lộ Đức, tôi được nhắc rằng chính tôi cũng là một người cần được nâng đỡ. Tôi không chỉ là người đẩy xe; có lúc tôi cũng cần được đẩy. Tôi không chỉ là người nghe người khác kể về vết thương; tôi cũng có những vết thương phải đưa ra trước ánh sáng của Thiên Chúa.

Chấp nhận mình yếu không làm cho ơn gọi linh mục trở nên nhỏ bé. Ngược lại, chỉ khi nhận ra mình cũng cần lòng thương xót, tôi mới có thể đến gần những người đau khổ mà không đứng cao hơn họ.

Tôi đi qua Đền thánh thêm một lần nữa, nhìn lại hang đá, nhìn dòng sông và nhìn những chiếc xe lăn đang được đẩy về phía quảng trường. Tôi không biết mỗi người đang xin điều gì. Tôi cũng không biết điều gì đang chờ đợi họ khi trở về. Nhưng tôi tin lời cầu nguyện của họ không mất đi. Có những lời cầu nguyện được đáp bằng một cuộc chữa lành. Có những lời cầu nguyện được đáp bằng sức mạnh để tiếp tục mang bệnh tật. Có những lời cầu nguyện được đáp bằng một con người xuất hiện đúng lúc. Và có những lời cầu nguyện mà câu trả lời chỉ được hiểu sau nhiều năm.

Tôi rời Lộ Đức mà không mang theo một lời giải thích trọn vẹn cho đau khổ. Nhưng tôi mang theo hình ảnh hàng ngàn ngọn nến đang cùng nhau bước đi trong đêm. Một ngọn nến nhỏ không thể làm cho bóng tối hoàn toàn biến mất. Nhưng nó đủ sáng để người cầm nến bước thêm một đoạn đường. Có lẽ đức tin cũng bắt đầu như vậy. Không phải là nhìn thấy toàn bộ con đường phía trước, nhưng là nhận được đủ ánh sáng để bước đi trong ngày hôm nay.

Sau mười năm sống tại châu Âu, cuối cùng tôi đã đến được với Đức Mẹ Lộ Đức. Tôi tạ ơn Chúa vì cuộc gặp gỡ đến hơi muộn, nhưng có lẽ lại đến vào đúng lúc. Và khi rời nơi ấy, trong lòng tôi vẫn có một ước ao rất thật: một ngày không xa, tôi sẽ trở lại. Có thể cùng một đoàn giáo dân. Có thể cùng những người bạn. Cũng có thể chỉ một mình. Tôi muốn trở lại không phải vì chưa nhìn đủ những công trình, nhưng vì có những nơi người ta phải đến nhiều lần mới học được cách ở lại.

Rồi tôi tin rằng, dù tôi có trở lại Lộ Đức hay không, Đức Mẹ vẫn tiếp tục đồng hành với tôi trên những chặng đường phía trước, như Mẹ đã đồng hành với bao người hành hương từ năm 1858 cho đến hôm nay.

Lm Giuse Phạm Đình Ngọc, SJ
Nguồn: hdgmvietnam.com