Suy niệm Bài đọc 2 - Chúa Nhật II Phục Sinh năm A - 1Pr 1,3-9 - Chan chứa niềm vui

0 /5
1 người đã bình chọn
Đã xem:  | Cật nhập lần cuối: 2026-04-10 15:28:43  | RSS

Bài trích thư thứ nhất của Thánh Phê-rô Tông đồ (1Pr 1,3-9)

3 Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta! Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại,

4 để được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai. Gia tài này dành ở trên trời cho anh em,

5 là những người, nhờ lòng tin, được Thiên Chúa quyền năng gìn giữ, hầu được hưởng ơn cứu độ Người đã dành sẵn, và sẽ bày tỏ ra trong thời sau hết.

6 Trong thời ấy, anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách.

7 Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, - vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Giê-su Ki-tô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự.

8 Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang,

9 bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người.

Những năm gần đây, các cộng đoàn Công giáo thường hát: “Trong Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm cho chúng ta trở nên những người tự do”. Một vị giảng thuyết có thể lấy lời bài hát này để làm đề tài cho bài giảng của mình: chỉ cần thay từ “chúng ta” thành “anh em”, câu ấy sẽ trở thành như sau: “Hỡi anh em, trong Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm cho anh em trở nên người tự do”. Vị đó có thể tiếp tục bài giảng của mình bằng cách thêm: đó là ý nghĩa của nó và bây giờ, thưa anh em, hãy rút ra kết luận và sống điều ấy.

Thư thứ nhất Thánh Phêrô có phần giống như thế. Chúng ta đã nghe đoạn mở đầu ở đây, ngay sau ba dòng đầu tiên, giống như phong bì thư, có ghi tên người gửi và người nhận. Có một luồng hơi, một cảm giác mạnh trong đoạn vừa nghe, đến nỗi chúng ta tự hỏi có phải Thánh Phêrô trích từ bài hát trong các nghi thức Rửa tội… Chúng ta không có chứng cứ nhưng đây là một giả thuyết thú vị, giúp chúng ta hiểu rõ hơn bài này. Người ta nhận ra dễ dàng ba khổ thơ, tôi chỉ phân tích đơn giản bằng cách tóm lược mỗi đoạn:

  • Đoạn đầu (c. 3-5): chúc tụng Thiên Chúa… Ngài cho chúng ta tái sinh nhờ sự Phục sinh của Chúa Kitô và từ nay chúng ta sống trong đức tin và lòng trông cậy;
  • Đoạn thứ hai: (c. 6-7): lòng cậy trông làm cho chúng ta hân hoan vui mừng, nhưng chúng ta còn trong thời thử thách của đức tin;
  • Đoạn thứ ba: (c. 8-9) phúc cho những ai không thấy mà tin, đức tin mang lại cho chúng ta niềm vui khôn tả, niềm vui này biến đổi chúng ta.

Các bạn đã nhận thấy cụm từ “đức tin” trong ba đoạn. Thật sự không ngạc nhiên nếu chúng ta đang trong nghi lễ rửa tội. Lại có một niềm vui tuyệt vời “một niềm vui khôn tả”, mặc dù có những thử thách: điều này rõ ràng hướng về các cộng đồng Kitô sống trong một thế giới đối nghịch; có thể tin rằng đây là những đối tượng cho bài viết của Thánh Phêrô.

Tôi xin trở lại từng đoạn một của bài. “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô” (c. 3) đó là cách diễn đạt của người Do Thái, nhưng ngôn từ là của Kitô giáo. Khởi đầu bằng một lời tôn vinh Thiên Chúa, đó là đặc điểm tiêu biểu của lời nguyện Do Thái; chắc chắn đây là một người hát nhiều Thánh vịnh mới có thể viết như thế! Tuy nhiên, nội dung mang phong cách Kitô giáo: trong các Thánh vịnh, Thiên Chúa được ca ngợi là Thiên Chúa của các Tổ phụ Ápraham, Isaác, Giacóp… Kể từ nay sự mặc khải đã bước sang thời kỳ quyết định: Thiên Chúa bây giờ được biết đến là Cha của Chúa Giêsu Kitô, nơi Ngài công trình của Thiên Chúa cho nhân loại được hoàn tất.

“Người cho chúng ta được tái sinh… nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại” (c. 3). Cũng như trong cuộc đối thoại của Chúa Giêsu với ông Nicôđêmô, Thánh Phêrô nói về Phép Rửa như một cuộc tái sinh và cuộc tái sinh này bắt nguồn từ sự Phục sinh của Chúa Kitô. Chúng ta là những Kitô hữu của thế kỷ XXI, chúng ta quá quen thuộc với cụm từ “Chúa Giêsu Kitô Phục sinh”, nên chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi nói như thế. Nhưng các Kitô hữu tiên khởi sống điều ấy như một cuộc cách mạng thật sự: kể từ nay bộ mặt thế giới đã thay đổi. Như Thánh Phaolô nói, thế giới cũ qua đi, một thế giới mới nảy sinh.

Chúng ta cũng thấy rõ nơi Thánh Phêrô một chủ đề chung thường nghe nơi Thánh Phaolô: sự căng thẳng giữa hiện tại và tương lai. Tất cả đã hoàn tất trong Chúa Kitô, vì thế ngài phát biểu như chuyện đã qua: “Người cho chúng ta được tái sinh” (c. 3). Có thể nói, mọi việc xong rồi, nhưng tất cả còn sẽ tới: chúng ta bị trì kéo, căng thẳng giữa “ơn cứu độ Người đã dành sẵn, và sẽ bày tỏ ra trong thời sau hết”, như Thánh Phêrô nói.

Khái niệm “cứu độ’ có thể được dịch là “cuộc sống” “không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai” (c. 4); chúng ta cũng có thể hiểu “giải thoát” khỏi những “hư hoại, vẩn đục và tàn phai”. Sự cứu độ, sự giải thoát đã hoàn tất bởi Đức Giêsu Kitô, nhưng toàn nhân loại chưa được vào, và chính số còn lại phải đến. Chính những gì đã hoàn tất làm cho chúng ta ngay từ bây giờ “chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang” (c. 8) như Thánh Phêrô nói. Những ngày chúng ta sống ảm đạm có thể là những ngày chúng ta đánh mất đi cái tin vui lớn của Phục sinh: tình yêu và sự sống còn vĩ đại hơn mọi hận thù và sự chết. Thế nhưng quả thật, trong một số trường hợp, niềm xác tín ấy có khuynh hướng phai mờ đi và lúc ấy đức tin chúng ta bị thử thách! Đoạn thứ hai nói rõ lên điều này: “Mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách”. (c. 6) Phần còn lại của bài Thánh thư ám chỉ những khó khăn liên quan, có thể là sự thù địch mà những Kitô hữu mới gặp phải, những người bị coi là thiểu số trong thế giới ngoại giáo.

Đoạn cuối lập lại đề tài đức tin trong thời gian chờ đợi. Về phần Thánh Phêrô, ngài có đặc ân được biết, được ở lâu dài bên Chúa Giêsu Kitô, ngài nói với những Kitô hữu không biết Chúa Giêsu, và ngài triển khai cho họ những ân phúc Chúa nói với Thánh Tôma: “Phúc cho ai không thấy mà tin”. Ngài khuyến khích họ: “Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang” (c. 8). Khi ngài dùng cụm từ “rực rỡ vinh quang” Thánh Phêrô biết rõ ngài nói gì, ngài có hồng ân được chứng kiến Chúa Giêsu biến hình. Trên mặt các Kitô hữu ngài thấy sự phản chiếu ánh sáng tỏa ra từ chính Chúa Giêsu.

Thánh Phêrô nhấn mạnh đến niềm vui của các Kitô hữu, một niềm vui khôn tả, mãnh liệt hơn những thử thách tức thời, điều này đến thật đúng lúc cho chúng ta, trong một giai đoạn, một cách nào đó, đời sống Giáo hội có phần ảm đạm! Phải chăng những người đương thời đang chờ đợi để thấy trên khuôn mặt chúng ta hình ảnh phản chiếu của Chúa Giêsu biến hình?

Tác giả: Marie-Noëlle Thabut
Nguồn: L’ intelligence des Ecritures, Socéval Editions
Dịch giả: E. Máccô Lương Huỳnh Ngân