Suy niệm Bài đọc 2 - Chúa Nhật XXXI thường niên năm A - Pl 2, 1-5 - Quà tặng nhưng không
BÀI ĐỌC 2 CN XXVI THƯỜNG NIÊN NĂM A (Pl 2, 1-5 hoặc 1-11)
Anh em hãy cảm nghĩ trong anh em điều đã có trong Đức Giê-su Ki-tô
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philípphê.
1 Nếu quả thật sự liên kết với Đức Ki-tô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau,
2 thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau.
3 Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình.
4 Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác.
5 Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su.
6 Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
7 nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.
8 Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.
9 Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.
10 Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ;
11 và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: 'Đức Giê-su Ki-tô là Chúa'.
Rất hiếm khi được nghe trọn bài này trong Thánh lễ. Mỗi năm, vào Lễ Lá, chúng ta được nghe phần thứ hai, là phần chiêm ngắm Mầu nhiệm Chúa Kitô, nhưng phần này ít quen thuộc hơn phần đầu. Vì thế, nên đọc cả hai phần cùng với nhau như hôm nay, vì cả hai liên kết chặt chẽ với nhau. Trong phần thứ nhất, Thánh Phaolô nói cho chúng ta biết làm thế nào để «sống trong Chúa Kitô», theo cách nói của ngài; còn trong phần thứ hai, chính thánh nhân chiêm ngắm Chúa Kitô.
Phần thứ nhất (phần chúng ta suy niệm hôm nay), hay làm thế nào để «sống trong Chúa Kitô». Thánh Phaolô dùng công thức này để mở đầu và kết thúc. Đầu bài: «Nếu quả thật sự liên kết với Đức Ki-tô» (c.1), và ở đoạn cuối: «Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su.» (c.5). Giữa hai phần ấy, ngài kê ra những tâm tình đó. Công thức «sống trong Đức Kitô» của ngài chắc chắn phải được hiểu theo một nghĩa thật sâu đậm: từ ngày chịu phép Rửa, chúng ta thuộc về Đức Kitô; một cách nào đó, chúng ta là Ngài. Mang danh tánh mới, cùng chung với những người được lãnh nhận phép Rửa, giúp chúng ta vượt qua tính đa dạng của mình. Tất cả những người được rửa tội đều mang một tên họ chung, đó là Kitô hữu. Và khi gặp gỡ các Kitô hữu, cảm tưởng cùng chung một gia đình ấy vượt lên trên hết mọi khác biệt.
Cũng như trong những cuộc gặp gỡ quan trọng của gia đình, chúng ta nhận ra người này, người nọ vào những dịp ấy. Trước tiên là bà con họ hàng của chúng ta. Mỗi lần có những cuộc gặp gỡ như thế và cảm nhận được tâm tình cùng chung trong một tập thể, chúng ta có thể hình dung phần nào điều Thánh Phaolô nói ở đây. Và chính tâm tình hiệp thông rất sâu đậm ấy gợi ý cho thánh nhân nhân dịp này kể ra những điều sau đây: «An ủi, bác ái, khích lệ, hiệp thông, cảm thương nhau». Xin lưu ý rằng đây là những đức tính của Thiên Chúa trong Cựu ước.
Chúng ta nhận ra nơi đây một tiếng vang quen thuộc trong Thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô, vốn cũng là lời chào phụng vụ mở đầu Thánh lễ: «Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần» (2 Cr 13,13). Chúng ta đã được dìm vào mầu nhiệm tình yêu và sự hiệp nhất ấy ngay trong ngày lãnh nhận phép Rửa tội; giờ đây, điều cần thiết chỉ là sống mầu nhiệm đó trong đời sống thường nhật. Để «niềm vui của tôi được trọn vẹn» (c.2), như Thánh Phaolô mời gọi, anh em «hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau…» (c.2). Theo một cách nào đó, ngài muốn nhắn nhủ: «Hãy làm rạng rỡ cho gia đình anh em, cho chính danh tính gia tộc của anh em».
Điều này còn đi xa hơn: «Hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình.» (c.3). Câu này thật lạ lùng: Phải chăng mỗi người chúng ta phải dứt khoát tự hạ giá mình? Chắc chắn là không. Mục đích không phải là so sánh ai hơn, ai kém mình; nếu như thế, thì hoàn toàn trái ngược với Tin Mừng về một Vương quốc không hề biết tính toán! Mục đích cũng không phải là nhìn lại chính mình, cho dù là để khiêm hạ. Trái lại, mục đích là nhìn đến người khác, đại để với một «tiên nghiệm» tích cực, một cái nhìn đương nhiên khâm phục người anh em. Và nhìn nơi người ấy không phải vì người ấy có gì, nhưng vì người ấy là gì.
Những khác biệt về thể lý, văn hóa, xã hội, dĩ nhiên là rõ ràng trước mắt. Nhưng tất cả những điều ấy thuộc về những gì người ấy có. Thế nhưng, Thánh Phaolô đưa vào đề tài này với cụm từ «trong Chúa Kitô». Không phải lãnh vực của «có gì», mà là của «là gì»: «Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô.» (Gl 3,27). Điều Thánh Phaolô muốn nói là: mỗi lần chúng ta gặp một người anh em đã nhận phép Rửa, hãy nhìn người ấy như một chi thể của Thân thể Chúa Kitô; người ấy đang hoàn tất trong thân xác mình những gì còn thiếu trong cuộc thương khó của Chúa Kitô (Cl 1,24). (Có nghĩa là người ấy cũng tham gia, theo một cách nào đó, vào việc xây dựng Nước Trời.)
Trước mắt chúng ta, người ấy là đền thờ của Chúa Thánh Thần, được trao một sứ mạng cá nhân riêng biệt, khác với sứ mạng của chúng ta, và sứ mạng ấy không thể không có trong kế hoạch của Thiên Chúa. Nếu không có sự khâm phục và những lời khích lệ của chúng ta, người ấy khó có thể hoàn tất sứ vụ của mình.
Bởi vì điều đáng kể chính là sứ vụ của mỗi người và của toàn thể cộng đồng. Để chu toàn sứ vụ của mình, người anh em ấy hơn tôi, có thể nói, người ấy là người duy nhất có thể chu toàn sứ vụ đó. Để thực hiện sứ vụ ấy, người ấy được tràn đầy ân sủng của Chúa Thánh Thần, nghĩa là được ban cho một khả năng yêu thương vô tận. Tất cả những điều ấy đều xứng đáng để tôi khâm phục. «Chỉ có một điều là anh em phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Đức Ki-tô» (Pl 1,27); hôm nay, ngài đến dạy thế nào là sống xứng với sứ vụ Kitô hữu của chúng ta.
Đây là những lời khuyên Thánh Phaolô dành cho những Kitô hữu, những người đã lãnh nhận phép Rửa; nhưng dĩ nhiên, chúng ta cũng phải có cái nhìn tích cực ấy đối với mọi người… Trong những cuộc tranh cãi của thời đại chúng ta, nhất là về vấn đề kỳ thị chủng tộc, sự phân biệt giữa «có» và «là» có thể giúp ích cho chúng ta chăng?... Điều đáng lưu ý cuối cùng là: trong bài này, Thánh Phaolô nói rõ rằng Nước Trời đang hiện hữu ở đây rồi, và đồng thời, chúng ta còn phải cộng tác với Nước Trời ấy trong suốt cuộc đời thường nhật của mình.
Kế hoạch của Thiên Chúa, được thực hiện trong Chúa Kitô, đã được hoàn tất nơi Chúa Kitô; và mỗi người chúng ta được tháp nhập vào Người nhờ phép Rửa. Đồng thời, bao lâu thực tại mật thiết chúng ta thuộc về Đức Kitô được thể hiện trong mọi tương quan với tha nhân, dù họ đã được rửa tội hay chưa, thì bấy lâu sự kết hợp trong Chúa Kitô còn được hoàn tất mỗi ngày trong cuộc sống thường nhật của chúng ta.
(Về phần thứ hai xin xem bài suy niệm Chúa nhật Lễ Lá, Ban Biên Tập xin chép lại nơi đây) Phần thứ hai: Đoạn này rất nổi tiếng. Người ta thường gọi là «Bài ca Thánh thư gửi tín hữu Philípphê», bởi vì khi nghe bài này, người ta có cảm tưởng như Thánh Phaolô không tự mình sáng tác, nhưng ngài trích lại từ một bài thánh ca thường được hát trong phụng vụ.
Hình như một trong những cái bẫy của bài này là, khi đọc, chúng ta bị cám dỗ nghĩ rằng nội dung bài có liên quan đến sự xứng đáng và phần thưởng. Như thể theo một sơ đồ: Chúa Giê-su xử sự một cách tuyệt vời, và vì thế Ngài nhận được một phần thưởng đáng khâm phục! Sở dĩ tôi dám nói là «cám dỗ», bởi vì mọi cách trình bày chương trình của Thiên Chúa theo quan hệ tính toán, phần thưởng, xứng đáng – điều mà tôi gọi là quan hệ toán số – đều trái ngược với «ân sủng» của Thiên Chúa. Ân sủng, theo định nghĩa, là những gì được ban cho nhưng không! Và, thật lạ lùng, chúng ta rất khó lý luận theo quan hệ cho nhưng không. Chúng ta luôn bị cám dỗ suy luận theo quan hệ xứng đáng – phần thưởng. Nhưng nếu Thiên Chúa chờ đợi chúng ta xứng đáng, thì trong trường hợp này, quả thật có thể đáng lo lắng…
Điều tuyệt vời của tình yêu Thiên Chúa là Ngài không chờ chúng ta xứng đáng mới tuôn đổ ân sủng trên chúng ta; ít nữa, đó là điều Thánh Kinh nói với chúng ta bằng mọi cách. Vì thế, tôi thiết tưởng, để trung thành với bài này, nên đọc bài này trong một tương quan về tính nhưng không. Nếu không, chúng ta có nguy cơ hiểu trái nghĩa, nếu quên rằng tất cả đều là quà tặng nhưng không từ Thiên Chúa, «tất cả là hồng ân», như Thánh Bernanos nói.
Nếu chúng ta cư xử như người phụ nữ trong vườn Địa đàng. Đối với Thánh Phaolô, hồng ân Thiên Chúa là quà tặng nhưng không, đó là điều hiển nhiên. Điều này tiềm ẩn trong mọi thư của ngài, hiển nhiên đến mức ngài thấy không cần phải nói rõ lại. Nếu thử tóm lược tư tưởng của Thánh Phaolô, tôi có thể nói thế này: hồng ân Thiên Chúa là quà tặng nhưng không; tuy nhiên, chúng ta tự loại mình khỏi món quà nhưng không ấy nếu chúng ta chọn thái độ đòi hỏi, coi đó như một quyền lợi của mình. Nếu chúng ta cư xử như người phụ nữ trong vườn Địa đàng, bà lấy trái cấm, chiếm hữu nó như một đứa trẻ «cuỗm lấy» trái cây trên gian hàng… Trái lại, Chúa Giêsu Kitô chỉ có tiếp nhận (điều Thánh Phaolô gọi là «vâng lời»); và bởi vì Ngài chỉ tiếp nhận hồng ân từ Thiên Chúa, không đòi hỏi gì, nên Ngài được toại nguyện.
Có một cách khác để diễn tả điều này: Chương trình của Thiên Chúa («Kế hoạch yêu thương» của Ngài) là đưa chúng ta vào sự mật thiết với Chúa, vào hạnh phúc của Ngài, vào tình yêu hoàn hảo của Ngài. Chương trình ấy hoàn toàn nhưng không; điều này dĩ nhiên chẳng có gì đáng ngạc nhiên, bởi vì đây là một chương trình yêu thương. Hồng ân ấy đến từ Thiên Chúa; việc được đưa vào đời sống thiêng liêng của Ngài, chúng ta chỉ cần tiếp nhận. Tôi có khuynh hướng muốn nói: tiếp nhận với một niềm vui đầy kinh ngạc, với sự thán phục sâu xa. Không có vấn đề xứng đáng hay không xứng đáng; đây là món quà. Với Thiên Chúa, tất cả đều là quà tặng. Thế nhưng, chúng ta biết rằng cũng có cách này cách nọ để đón nhận một món quà: hoặc đón nhận một cách tử tế, nghĩa là đơn sơ và với lòng biết ơn; hoặc tìm cách chiếm hữu, coi đó như một thứ sở hữu, gần như cướp lấy nó… Khi ấy, món quà không còn mang ý nghĩa của một món quà nữa, và mọi tương quan đều bị hỏng mất.
Và nếu món quà ấy thật tuyệt vời — tình bạn, tình yêu… — thì tất cả càng bị hỏng, bởi vì tình bạn và tình yêu không thể bị cướp lấy. Tình bạn, tình yêu được lãnh nhận, có thể nói, trong tư thế quỳ gối, với niềm vui, sự ngạc nhiên, lòng thán phục và biết ơn.
Ở đây, món quà mà Thánh Phaolô nói đến chính là tình yêu vô tận của Thiên Chúa: đó là chính sự sống của Ngài. «Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa» mà không nghĩ phải nhất quyết đòi hỏi cho mình địa vị ngang hàng với Thiên Chúa (c.6).
Qua đoạn này, tôi xin lưu ý: đây là một lời xác quyết hết sức quan trọng về thiên tính của Đức Kitô. Thánh Phaolô bắt đầu rao giảng Tin Mừng và thành lập cộng đoàn Kitô hữu tại Philípphê vào năm 49 hay 50. Người ta không biết chính xác Thư gửi tín hữu Philípphê được viết vào năm nào, nhưng điều chắc chắn là bức thư này có trước các sách Tin Mừng. Vì thế, vào thời ấy, đây đã là một lời xác quyết hết sức minh bạch về tính hằng hữu và thiên tính của Đức Kitô.
Bây giờ chúng ta trở lại với câu: «Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa». Chính vì Ngài vốn có địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nên Ngài biết rằng đó là một tình yêu nhưng không. Ngài biết mình không cần phải đòi hỏi hay khư khư giữ lấy địa vị ngang hàng với Thiên Chúa; bởi lẽ, đòi hỏi phải duy trì địa vị ấy là điều không thích hợp với tình yêu nhưng không. Thế nhưng, chính điều đó lại là điều Thiên Chúa muốn trao ban cho chúng ta, như một món quà. Và rốt cuộc, chính Thiên Chúa đã ban điều ấy cho chúng ta. Vấn đề cũng tương tự như trong giai đoạn Chúa Giêsu chịu cám dỗ trong sa mạc: ma quỷ đề nghị với Ngài những điều, xét cho cùng, cũng nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa. Nhưng Chúa Giêsu từ chối chiếm hữu chúng. Ngài chờ đợi Chúa Cha ban cho Ngài. Và Chúa Cha đã ban cho Ngài: «danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu» (c.9). Đó chính là Danh của Thiên Chúa!
Gọi Chúa Giêsu là «Chúa» có nghĩa là tuyên xưng Ngài là Thiên Chúa. Trong Cựu ước, danh hiệu «Chúa» được dành riêng cho Thiên Chúa; cũng vậy, cử chỉ bái gối trước Ngài gợi lại lời ngôn sứ Isaia:
«Ta lấy chính danh Ta mà thề,
lời chân thật này thốt ra khỏi miệng Ta,
Ta quyết chẳng bao giờ rút lại:
Trước mặt Ta, mọi người sẽ quỳ gối,
và mở miệng thề» (Is 45,23).
Chúa Giêsu đã sống cuộc đời trần thế của Ngài trong khiêm nhu và cậy trông, ngay cả trong những lúc tồi tệ nhất, tức là lòng hận thù của con người và sự chết. Tôi dùng cụm từ «cậy trông» còn Thánh Phaolô dùng cụm từ «vâng phục». Tiếng Pháp là Obeir, trong đó có gốc La-tinh obaudire, theo nghĩa đen là để tai trước lời nói: Đó là tư thế đàm thoại hoàn hảo, không tì bóng; tức là hoàn toàn tin tưởng. Sở dĩ để tai nghe trước lời nói, bởi vì ta biết lời nói ấy là tình yêu, có thể nghe không phải lo lắng sợ hãi. Bài Thánh thư kết thúc bằng câu: «Mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: 'Đức Giê-su Ki-tô là Chúa'» (c.11): Vinh quang là thể hiện là mặc khải tình yêu vô tận, tình yêu hiện thân. Nói cách khác, khi thấy Chúa Giêsu đem tình yêu lên tột đỉnh, chúng ta có thể nói như người sĩ quan La Mã: «Quả thật, người này là Con Thiên Chúa» (Mc 15,39).
Tác giả: Marie-Noëlle Thabut
Nguồn: L’ intelligence des Ecritures, Socéval Editions
Dịch giả: E. Máccô Lương Huỳnh Ngân
.jpg)