Suy niệm Bài đọc 2 - Chúa Nhật XXXII thường niên năm A - 1Tx 4,13-18 - Niềm hy vọng hằng sống
BÀI ĐỌC 2 CN XXXII TN A (1Tx 4,13-18)
Nhờ Đức Giê-su, Thiên Chúa sẽ đem những người đã chết đến làm một với Người
Trích thư thứ nhất của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca
13 Thưa anh em, về những ai đã an giấc ngàn thu, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng.
14 Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giê-su đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giê-su, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giê-su.
15 Dựa vào lời của Chúa, chúng tôi nói với anh em điều này, là chúng ta, những người đang sống, những người còn lại vào ngày Chúa quang lâm, chúng ta sẽ chẳng đi trước những người đã an giấc ngàn thu đâu.
16 Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết trong Đức Ki-tô sẽ sống lại trước tiên;
17 rồi đến chúng ta, là những người đang sống, những người còn lại, chúng ta sẽ được đem đi trên đám mây cùng với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung. Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi.
18 Vậy anh em hãy dùng những lời ấy mà an ủi nhau.
Người ta thường tự hỏi: Kitô hữu có gì hơn những người khác? Thánh Phaolô vừa đưa ra câu trả lời: họ được ban cho một món quà, đó là niềm hy vọng! Đối với thánh nhân, đó chính là điều làm nên sự khác biệt: «Chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng» (c.13). Niềm hy vọng ấy không dựa vào lý luận, cũng không dựa vào lời rao giảng của một ai đó…, nhưng dựa vào một sự kiện, đồng thời là nền tảng vững chắc của đức tin: sự Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô. Trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô, Thánh Phaolô còn nói như sau: «Mà nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng» (1Cr 15,14). Trong hai điều, chỉ có một: hoặc Chúa Kitô đã sống lại, hoặc Chúa Kitô đã không sống lại. Nếu Ngài không sống lại, thì đức tin của chúng ta sẽ đổ vỡ tan tành. Thật vậy: «Mà nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền… Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Ki-tô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người» (1Cr 15,17-19). Nếu quả thật là thế, thì chúng ta đã bị phỉnh gạt, và tương lai hoàn toàn bế tắc.
Nhưng dĩ nhiên, Thánh Phaolô tiếp, cũng trong thư gửi giáo đoàn Côrintô: «Nhưng không phải thế! Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu» (1Cr 15,20). Từ ngữ «mở đường» ở đây có thể hiểu là hoa trái đầu mùa của nhân loại được sống lại. Thánh Phaolô có ý nhắc đến tập quán dâng lễ vật trong Cựu ước. Những lễ vật dâng lên Thiên Chúa là thành quả đầu mùa, như hoa trái đầu mùa gặt hái hoặc những con vật đầu lòng của đàn gia súc. Những lễ vật ấy tượng trưng cho toàn bộ mùa màng hay cả đàn gia súc. Cũng như thế, Chúa Gisu Phục Sinh là «Đấng mở đường» cho cả nhân loại. Lúc bấy giờ, chúng ta có thể chiêm ngắm kế hoạch của Thiên Chúa: Thiên Chúa hằng sống tạo dựng một dân tộc được sống muôn đời. Và cũng chính vì thế, chúng ta là một dân tộc có niềm hy vọng.
Chúng ta hãy nhớ lại cuộc tranh luận với những người Xa-đốc (Mt 22,23): thời Chúa Giêsu, lòng tin vào sự phục sinh vẫn còn là một bước tiến mới mẻ trong thần học Do Thái. Những người Pharisêu tin vào sự phục sinh, nhưng những người Xa-đốc thì không. Họ biện minh cho lập trường của mình bằng cách nêu lên sự phức tạp của một giả thiết về sự phục sinh: một người phụ nữ lần lượt cưới bảy người chồng. Họ hỏi: «Vậy, trong ngày sống lại, bà ấy sẽ là vợ ai trong số bảy người, vì tất cả đều đã lấy bà?» (Mt 22,28).
Chúa Giêsu trả lời rằng trước hết, không nên nghĩ rằng sau khi phục sinh, cuộc sống sẽ là bản sao của đời sống hiện tại trên trái đất, chỉ khác ở chỗ từ nay con người không còn phải chết nữa. Không phải thế! Nhưng Ngài xác quyết rằng: «Còn về vấn đề kẻ chết sống lại, thì các ông không đọc lời Thiên Chúa đã phán cùng các ông sao? Người phán: Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác và Thiên Chúa của Gia-cóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống» (Mt 22,31-32).
Lời ấy đã giúp Chúa Giêsu có thể đương đầu với sự chết. Mỗi khi loan báo cuộc Thương Khó cho các môn đệ, Chúa Giêsu luôn nói đến sự phục sinh của Người (ví dụ Mt 16,21). Lời ấy cũng giúp chúng ta can đảm đương đầu với cuộc sống, không quá lo lắng khi nghĩ đến cái chết, con đường cuối cùng không thể tránh khỏi, và có thể đối diện với cái chết khi ngày ấy đến.
Thánh Phaolô cũng nói:«Thật vậy, tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta. Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người… có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang. Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở» (Rm 8,18-19.21-22). Sự sinh nở ấy nằm trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Vì thế, khi nghĩ đến sự chết, chúng ta chỉ còn biết phó thác cho thánh ý Chúa, bởi vì ý định của Người luôn tốt lành cho chúng ta: «Người cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu: thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô. Cũng trong Đức Ki-tô» (Ep 1,9-10).
Kế hoạch của Thiên Chúa chính là quy tụ một dân tộc hằng sống, kết hợp nên một với Chúa Giêsu Kitô, như một thân thể duy nhất. Rốt cuộc, điều khó nhất đối với chúng ta là hình dung được kế hoạch hiệp nhất ấy: «Quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô» (Ep 1,10).
Hẳn Thánh Phaolô nghĩ đến điều này khi ngài nói: «Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? … Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta» (Rm 8,35-39).
Không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi Ngài, kể cả sự chết thể lý. Vì thế, Thánh Phaolô dùng hình ảnh giấc ngủ: người đang ngủ vẫn còn sống! Và sau giấc ngủ, họ còn lấy lại sức… Vì thế, những người đã rời xa chúng ta không bị tách lìa khỏi Thiên Chúa. Như Thánh Phaolô nói với chúng ta trong bài đọc hôm nay: «Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi» (c.17). Chính điều này giúp chúng ta nâng đỡ lẫn nhau.
Bản thân Thánh Phaolô đôi lúc cũng cần được nâng đỡ như thế. Vì lẽ đó, ngài viết trong thư thứ hai gửi giáo đoàn Côrintô: «Cho nên chúng tôi không chán nản. Trái lại, dù con người bên ngoài của chúng tôi có tiêu tan đi, thì con người bên trong của chúng tôi ngày càng đổi mới. Thật vậy, một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời» (2 Cr 4,16-17). Và trong thư gửi tín hữu Philípphê, ngài viết: «Còn chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người» (Pl 3,20-21).
Đề kết luận, chúng ta thử tưởng tượng, ngày mà Chúa Giêsu gọi : «Ngày quang lâm của Con Người» (Mt 24,29): người phóng viên trực lúc ấy viết: «Tất cả mọi người trỗi dậy như một người».
Tác giả: Marie-Noëlle Thabut
Nguồn: L’ intelligence des Ecritures, Socéval Editions
Dịch giả: E. Máccô Lương Huỳnh Ngân
.jpg)